Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
Phình động mạch chủ là yếu trương lực khu vực phồng của mạch, động mạch chủ là mạch máu lớn cung cấp máu cho cơ thể. Các động mạch chủ, chạy từ tim thông qua trung tâm của ngực và bụng. Bởi vì động mạch chủ cung cấp máu chính cho cơ thể, một động mạch chủ vỡ phình động mạch có thể gây chảy máu đe dọa tính mạng. Mặc dù có thể không bao giờ có triệu chứng.
Phần lớn chứng phình động mạch chủ là nhỏ không vỡ và đang phát triển chậm, nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ phát triển nhanh chóng chứng phình động mạch chủ lớn. Khi một phình động mạch chủ được tìm thấy, bác sĩ sẽ theo dõi chặt chẽ, có thể được lên kế hoạch phẫu thuật nếu nó là cần thiết. Phẫu thuật khẩn cấp cho một chứng phình động mạch vỡ có thể có rủi ro.
2. Nguyên nhân:
2.1. Chứng phình động mạch chủ bụng:
Khoảng 75 % của tất cả các chứng phình động mạch động mạch chủ xảy ra trong một phần của động mạch chủ, đó là trong bụng. Mặc dù nguyên nhân chính xác của chứng phình động mạch động mạch chủ bụng là không rõ, các nhà nghiên cứu nghĩ rằng một số yếu tố có thể đóng một vai trò, bao gồm:
a. Thuốc lá:
Hút thuốc lá và các hình thức sử dụng thuốc lá tạo thành một trong những yếu tố quan trọng nhất liên quan đến sự phát triển của chứng phình động mạch chủ. Ngoài những ảnh hưởng có hại mà thuốc lá gây ra trực tiếp cho các động mạch, hút thuốc lá góp phần xơ vữa động mạch, huyết áp cao và nguyên nhân gây chứng phình động mạch phát triển nhanh hơn.
b. Tăng huyết áp:
Cao huyết áp, đặc biệt là nếu kém kiểm soát, làm tăng nguy cơ phát triển một phình động mạch chủ.
c. Nhiễm trùng trong động mạch chủ (vasculitis):
Trong trường hợp hiếm hoi, phình động mạch chủ có thể do nhiễm trùng hoặc viêm (viêm mạch) làm suy yếu một phần của thành động mạch chủ. Thường có một mô hình của chứng phình động mạch phát triển giữa các thành viên gia đình, có nghĩa là nó có thể được di truyền.
2.2. Chứng phình động mạch chủ ngực:
Khoảng 25 % của chứng phình động mạch động mạch chủ xảy ra cao hơn bên trong lồng ngực (vùng ngực của động mạch chủ). Ngoài các yếu tố nguy cơ liên quan đến chứng phình động mạch chủ bụng có thể góp phần chứng phình động mạch chủ ngực, có một số yếu tố bổ sung có thể dẫn đến một phình động mạch chủ ngực, bao gồm:
a. Hội chứng Marfan:
Một bệnh di truyền ảnh hưởng đến các mô liên kết trong cơ thể, đặc biệt có nguy cơ của một chứng phình động mạch chủ ngực. Những người có hội chứng Marfan có thể có một điểm yếu trong thành động mạch chủ mà làm cho dễ bị chứng phình động mạch. Những người bị hội chứng Marfan thường có đặc điểm khác biệt thể chất, bao gồm cả tầm vóc cao lớn, cánh tay rất dài, xương ức biến dạng và các vấn đề về mắt.
b. Chấn thương đến động mạch chủ:
Có nhiều khả năng bị phình động mạch chủ ngực nếu đã có vấn đề trước với động mạch chủ, như một vết cắt vào thành của các động mạch chủ (mổ động mạch chủ).
c. Chấn Thương:
Một số người bị thương trong tai nạn té ngã có động cơ phát triển chứng phình động mạch động mạch chủ ngực.
2.3. Yếu tố nguy cơ:
– Tuổi: Chứng phình động mạch chủ bụng thường xảy ra ở những người 60 tuổi trở lên.
– Thuốc lá: Thuốc lá là một yếu tố nguy cơ mạnh mẽ cho sự phát triển của một phình động mạch chủ. Trẻ em đã hút hoặc nhai thuốc lá, nguy cơ càng lớn.
– Tăng huyết áp: Tăng huyết áp thường thiệt hại các mạch máu trong cơ thể, nâng cao cơ hội phát triển một chứng phình động mạch.
– Xơ vữa động mạch: Xơ vữa động mạch, sự tích tụ chất béo và các chất khác có thể thiệt hại thành của mạch máu, là một yếu tố làm tăng nguy cơ của chứng phình động mạch.
– Là nam giới: Đàn ông nguy cơ phát triển chứng phình động mạch động mạch chủ từ năm đến 10 lần nhiều hơn phụ nữ. Tuy nhiên, phụ nữ với chứng phình động mạch động mạch chủ có nguy cơ vỡ cao hơn so với các nam giới.
– Chủng tộc: Chứng phình động mạch chủ thường xảy ra ở người da trắng hơn so với ở những người của các chủng tộc khác.
– Gia Đình: Những người có tiền sử gia đình phình động mạch chủ có nguy cơ gia tăng mắc bệnh. Những người có tiền sử gia đình của chứng phình động mạch có xu hướng phát triển chứng phình động mạch ở độ tuổi trẻ hơn và có nguy cơ vỡ cao hơn.
3. Triệu chứng:
Chứng phình động mạch mạch chủ thường phát triển chậm và không có triệu chứng, làm cho nó khó phát hiện. Phình động mạch chủ phát triển, một số người có thể nhận thấy:
– Cảm giác mạch đập gần rốn, nếu chứng phình động mạch xảy ra ở bụng.
– Đau ở vùng bụng hoặc ngực.
– Đau lưng.
Chứng phình động mạch có thể phát triển bất cứ nơi nào dọc theo động mạch chủ.
4. Xét nghiệm:
– Siêu âm tim
– Siêu âm bụng: Có thể giúp chẩn đoán một phình động mạch chủ bụng.
– Chụp cắt lớp vi tính (CT scan): Thấy hình ảnh rõ ràng về động mạch chủ.
– Chụp cộng hưởng từ (MRI): Bác sĩ có thể sử dụng những hình ảnh được sản xuất bởi các tín hiệu để xem nếu có một chứng phình động mạch.
5. Biến chứng:
– Vỡ động mạch chủ. Một vỡ phình động mạch chủ có thể dẫn đến chảy máu đe dọa tính mạng.
– Hình thành cục máu đông. Cục máu đông nhỏ có thể phát triển trong khu vực của phình động mạch chủ. Nếu một cục máu đông vỡ rời khỏi thành bên trong của một chứng phình động mạch và các khối máu ở nơi khác trong cơ thể, nó có thể gây ra đau hoặc chặn lưu lượng máu đến chân, ngón chân hoặc các cơ quan trong ổ bụng.
Các dấu hiệu và triệu chứng khi vỡ động mạch chủ:
– Đau đột ngột, dữ dội và dai dẳng bụng, ngực hoặc đau lưng.
– Đau lan đến chân.
– Vã mồ hôi.
– Chóng mặt.
– Huyết áp thấp.
– Mạch nhanh.
– Mất ý thức.
– Khó thở.
6. Điều trị:
Mục tiêu của điều trị là để ngăn ngừa chứng phình động mạch khỏi bị mở rộng. Các điều trị phải tuân theo phác đồ cũng như chỉ định của bác sĩ.
7. Phòng bệnh:
– Giữ huyết áp được kiểm soát.
– Không hút thuốc.
– Hãy tập thể dục thường xuyên.
– Giảm cholesterol và chất béo trong chế độ ăn uống.
– Điều đặc biệt quan trọng là bỏ thuốc lá vì hút thuốc hoặc nhai thuốc lá có thể làm tăng cơ hội phát triển chứng phình động mạch.
– Nếu có yếu tố nguy cơ bị phình động mạch động mạch chủ hãy đến gặp bác sĩ và kiểm tra sức khỏe định kỳ.
Đặt lịch phẫu thuật nhanh – chọn bác sĩ theo yêu cầu
👉 Hỗ trợ tại Lạc Việt & kết nối bác sĩ từ Bạch Mai, Việt Đức, 108, Đại học Y, Nội tiết TW, BV K
Chuyên khoa Tai – Mũi – Họng
ThS.BS Nội trú Đặng Thị Hồng Ánh là bác sĩ trẻ, chuyên môn vững vàng trong lĩnh vực Tai – Mũi – Họng, hiện đang công tác tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương – một trong những đơn vị đầu ngành về chuyên khoa này tại Việt Nam.
Bác sĩ có kinh nghiệm thực tế trong khám và xử trí các bệnh lý cấp cứu Tai – Mũi – Họng, đồng thời đang tham gia khám và điều trị tại các cơ sở y tế uy tín.
Chuyên gia Nội tổng hợp – Hô hấp – Tim mạch
PGS.TS.BS Trần Hoàng Thành là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Hô hấp, Tim mạch và Nội tổng hợp, với hơn 45 năm kinh nghiệm trong khám và điều trị bệnh lý nội khoa.
Bác sĩ từng công tác tại các đơn vị đầu ngành như Trung tâm Hô hấp và Khoa Tim mạch – Bệnh viện Bạch Mai, đồng thời là Giảng viên cao cấp tại Đại học Y Hà Nội. Đây đều là những môi trường chuyên sâu, giúp bác sĩ có nền tảng chuyên môn vững vàng và kinh nghiệm lâm sàng phong phú.
Chuyên gia Nội thần kinh đầu ngành | Hơn 35 năm kinh nghiệm
Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ cao cấp Lê Văn Thính là một trong những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Nội thần kinh tại Việt Nam, với hơn 35 năm kinh nghiệm khám, điều trị và nghiên cứu chuyên sâu các bệnh lý thần kinh.
Hiện bác sĩ đang tham gia khám và điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Lạc Việt.
Thầy thuốc ưu tú | Chuyên gia Nội thận – Hồi sức cấp cứu | Hơn 35 năm kinh nghiệm
Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc ưu tú Bùi Văn Mạnh là chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực Nội thận – Lọc máu – Hồi sức cấp cứu – Ghép tạng, với hơn 35 năm kinh nghiệm điều trị, nghiên cứu và giảng dạy.
Chuyên gia Ung bướu – Ung thư Vú | Hơn 35 năm kinh nghiệm
Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Văn Định là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Ung bướu, đặc biệt chuyên sâu về Ung thư Vú, với hơn 35 năm kinh nghiệm khám, điều trị và phẫu thuật.
Chuyên gia đầu ngành Nội tiết – gần 40 năm kinh nghiệm
TS.BSCC Ngô Thị Phương là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Nội tiết – chuyển hóa, với gần 40 năm kinh nghiệm trong khám và điều trị các bệnh lý nội khoa phức tạp.
Bác sĩ từng giữ chức vụ Chủ nhiệm Khoa Nội tiết – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, đồng thời tham gia nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học chuyên sâu, đóng góp lớn cho ngành Nội tiết tại Việt Nam.
Hiện nay, bác sĩ đang tham gia khám và điều trị tại Bệnh viện Quốc tế Thăng Long Lạc Việt.