Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
1. Định nghĩa:
Phình động mạch não là bất cứ một vị trí nào của động mạch não rộng hoặc giãn ra. Các phình động mạch não rất nguy hiểm khi thành mạch tại một vị trí trở nên yếu, vỡ gây chảy máu não.
2. Nguyên nhân:
Trước đây người ta cho rằng phình động mạch não là do bẩm sinh (genitic), nhưng ngày nay người ta đã chứng minh phình động mạch não là do tổn thương vi mô của thành động mạch (vữa xơ động mạch), do dòng chảy bất thường ở vị trí phân chia của các động mạch. Tăng huyết áp, uống nhiều rượu, hút thuốc lá và một số nguyên nhân khác như nấm ký sinh, nhiễm khuẩn, chấn thương, nghiện ma tuý đặc biệt Cocain gây viêm dẫn tới phình mạch.
3. Các triệu chứng:
Vỡ phình động mạch: Dấu hiệu thường gặp và triệu chứng của chứng phình động mạch vỡ bao gồm:
Đột ngột, đau đầu rất nặng, đau cổ, buồn nôn và ói mửa.
Mờ mắt hay nhìn đôi, nhạy cảm với ánh sang, một mí rủ.
Mất ý thức, lẫn lộn.
Rò rỉ – chứng phình động mạch: Trong một số trường hợp, chứng phình động mạch có thể bị rò rỉ một lượng nhỏ máu. Điều này có thể gây ra đau đầu rất nặng.
Chứng phình động mạch não ổn định: Chứng phình động mạch não ổn định có thể không có triệu chứng, đặc biệt nếu nó nhỏ. Tuy nhiên, phình động mạch ổn định lớn có thể chèn vào các mô não và dây thần kinh, có thể gây ra :
Đau ở trên và phía sau một mắt, thay đổi tầm nhìn hoặc nhìn đôi, một mí rủ.
Tê, yếu hoặc liệt của một bên của khuôn mặt.
Một chứng phình động mạch vỡ là một cấp cứu y tế. Trong khoảng 50 phần trăm trường hợp, chứng phình động mạch não vỡ là tử vong. Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay nếu phát triển một nhức đầu, bất ngờ cực kỳ nghiêm trọng.
4. Các biến chứng:
Khi chứng phình động mạch não vỡ, chảy máu thường chỉ kéo dài vài giây. Máu có thể gây thiệt hại trực tiếp tới các tế bào xung quanh, và chảy máu có thể gây thiệt hại hay tiêu diệt tế bào khác. Nó cũng làm tăng áp suất bên trong hộp sọ. Nếu áp lực trở nên quá cao, cung cấp máu và oxy tới não có thể bị gián đoạn đến khi mất ý thức hoặc thậm chí tử vong có thể xảy ra.
Các biến chứng có thể phát triển sau khi vỡ của chứng phình động mạch bao gồm:
Chảy máu lại: Chứng phình động mạch đã vỡ hoặc rò rỉ có nguy cơ chảy máu một lần nữa. Chảy máu lại có thể gây thiệt hại thêm cho các tế bào não.
Co thắt mạch: Sau vỡ phình động mạch não, mạch máu trong não có thể mở rộng và hẹp thất thường. Tình trạng này có thể giới hạn lưu lượng máu đến các tế bào não (đột quỵ thiếu máu cục bộ) và gây thiệt hại tế bào bổ sung và mất mát.
Não úng thủy: Khi chứng phình động mạch vỡ chảy máu trong không gian giữa não và mô xung quanh (xuất huyết dưới màng nhện) – thường xuyên nhất là trường hợp máu có thể chặn lưu thông của các chất lỏng bao quanh não và tủy sống (dịch não tủy). Tình trạng này có thể dẫn đến tràn dịch não, vượt quá dịch não tủy làm tăng áp lực lên não và các mô có thể thiệt hại.
Giảm natri máu: Xuất huyết dưới màng nhện từ chứng phình động mạch não vỡ có thể phá vỡ sự cân bằng của natri. Điều này có thể xảy ra từ thiệt hại cho vùng dưới đồi, một khu vực gần căn cứ của bộ não. Sự sụt giảm mức độ natri trong máu (hyponatremia) có thể gây sưng tấy của các tế bào não và tổn thương vĩnh viễn.
5. Các xét nghiệm và chẩn đoán:
Chẩn đoán xét nghiệm bao gồm:
Chụp cắt lớp vi tính (CT): Một scan thường là thử nghiệm đầu tiên được sử dụng để xác định xem có chảy máu trong não. Thử nghiệm hình ảnh được hai chiều của não bộ. Với kiểm tra này, cũng có thể được tiêm một thuốc nhuộm làm cho nó dễ dàng hơn để quan sát lưu lượng máu trong não và có thể chỉ ra các tổn thương của một chứng phình động mạch vỡ. Biến thể của thử nghiệm này được gọi là CT angiography.
Thử nghiệm dịch não tủy: Nếu đã có xuất huyết dưới màng nhện, sẽ có khả năng có chủ yếu là các tế bào máu đỏ trong chất lỏng bao quanh não và cột sống (dịch não tủy). Bác sĩ sẽ thử nghiệm dịch não tủy nếu có các triệu chứng của một chứng phình động mạch vỡ, nhưng một CT scan đã không được hiển thị bằng chứng của chảy máu. Thủ tục để hút dịch não tủy từ xương sống với một cây kim được gọi là chọc dò tủy sống thắt lưng.
Chụp cộng hưởng từ (MRI): MRI sử dụng từ trường và sóng vô tuyến để tạo ra hình ảnh chi tiết của não bộ, hoặc hai chiều lát cắt hoặc hình ảnh ba chiều. Việc sử dụng thuốc nhuộm, MRI angiography, có thể nâng cao hình ảnh của mạch máu và các tổn thương của một chứng phình động mạch vỡ. Kiểm tra hình ảnh này có thể cung cấp một bức tranh rõ ràng hơn CT scan.
Angiogram não hoặc arteriogram não: Trong thủ tục này, bác sĩ chèn một ống mỏng, linh hoạt vào một động mạch lớn, thường là trong háng – và nó qua tim vào các động mạch trong não. Một thuốc nhuộm đặc biệt tiêm vào ống thông đi đến các động mạch trong bộ não. Một loạt các hình ảnh X – quang sau đó có thể tiết lộ chi tiết về các điều kiện của các động mạch và tổn thương của một chứng phình động mạch vỡ. Kiểm tra này thường được sử dụng khi các xét nghiệm chẩn đoán khác không cung cấp đủ thông tin.
6. Phương pháp điều trị và thuốc:
a. Phẫu thuật:
Có hai lựa chọn điều trị phổ biến cho một chứng phình động mạch não vỡ.
Phẫu thuật cắt là một thủ tục để đóng tắt một chứng phình động mạch. Giải phẫu thần kinh loại bỏ một phần xương sọ để truy cập vào chứng phình động mạch và xác định các mạch máu nuôi các chứng phình động mạch. Sau đó, họ đặt một clip kim loại nhỏ xíu trên cổ của động mạch để ngăn chặn lưu lượng máu đến nó.
Cuộn nội động mạch (endovascula) là một thủ tục ít xâm lấn hơn phẫu thuật cắt. Các bác sĩ phẫu thuật chèn một ống nhựa rỗng vào động mạch, thường là ở háng và nó qua cơ thể đến phình động mạch này. Sau đó sử dụng một dây dẫn để đẩy một dây bạch kim mềm thông qua ống thông và vào các phình động mạch. Các cuộn dây lên bên trong phình động mạch, làm gián đoạn dòng chảy máu và gây ra cục máu đông.
Cả hai thủ tục đặt ra những rủi ro, đặc biệt là chảy máu trong não và mất mát của dòng máu lên não. Các cuộn dây endovascular ít xâm lấn và có thể được an toàn hơn ban đầu, nhưng nó lại cũng có một nguy cơ chảy máu cao hơn tiếp theo và thủ tục bổ sung có thể cần thiết. Giải phẫu thần kinh sẽ là một đề nghị dựa trên kích thước của chứng phình động mạch não, khả năng để trải qua phẫu thuật và các yếu tố khác.
b. Các phương pháp điều trị khác:
Phương pháp điều trị chứng phình động mạch não khác chưa vỡ là nhằm mục đích làm giảm các triệu chứng và biến chứng.
Thuốc giảm đau, chẳng hạn như acetaminophen có thể được dùng để điều trị đau nhức đầu.
Chẹn kênh canxi ngăn chặn xâm nhập canxi vào tế bào của thành mạch máu. Các loại thuốc này có thể làm giảm co thắt, việc mở rộng và thu hẹp thất thường của mạch máu có thể là một biến chứng của một chứng phình động mạch vỡ.
Các can thiệp để ngăn ngừa đột quỵ từ lưu lượng máu không đủ bao gồm tiêm tĩnh mạch của một loại thuốc gọi là vasopressor, trong đó nâng huyết áp để vượt qua sự kháng cự của mạch máu bị hẹp.
Can thiệp thay thế để ngăn ngừa đột quỵ là nong mạch. Trong thủ tục này, một bác sĩ phẫu thuật sử dụng một ống thông để thổi phồng một quả bóng nhỏ mở rộng mạch máu bị hẹp trong não. Một ống thông cũng có thể được sử dụng để cung cấp cho não bộ một loại thuốc gọi là thuốc giãn mạch, gây mở rộng mạch máu.
Thuốc chống động kinh có thể được dùng để điều trị động kinh liên quan đến một chứng phình động mạch vỡ. Các loại thuốc này bao gồm levetiracetam, phenytoin và valproic acid.
Ống thông và phẫu thuật shunt có thể làm giảm áp lực lên não từ dịch não tủy vượt quá liên kết với một chứng phình động mạch vỡ. Một ống thông có thể được đặt trong không gian đầy chất lỏng bên trong của não (não thất) để lấy nước từ các nước thừa vào một túi bên ngoài. Đôi khi, nó có thể cần thiết một hệ thống shunt – trong đó bao gồm một ống cao su silicon dẻo (shunt) và một van – tạo ra một kênh thoát nước bắt đầu từ bộ não và kết thúc trong khoang bụng.
c. Điều trị chứng phình động mạch não ổn định:
Phẫu thuật cắt hoặc cuộn endovascular có thể được sử dụng để niêm phong một chứng phình động mạch não ổn định và giúp ngăn ngừa vỡ trong tương lai. Tuy nhiên, những rủi ro được biết đến của các thủ tục có giá trị hơn lợi ích tiềm năng.
Các yếu tố xem xét trong việc đưa ra một đề nghị bao gồm:
Kích cỡ và vị trí của chứng phình động mạch.
Tuổi và sức khỏe chung.
Lịch sử gia đình của chứng phình động mạch vỡ.
Điều kiện bẩm sinh làm tăng nguy cơ của chứng phình động mạch vỡ.
Nếu có tăng huyết áp, hãy nói chuyện với bác sĩ về thuốc để quản lý các điều kiện. Nếu có một chứng phình động mạch não, kiểm soát thích hợp của huyết áp có thể giảm nguy cơ vỡ.
7. Phòng bệnh:
Không hút thuốc hay sử dụng ma túy
Ăn uống lành mạnh và tập thể dục: Thay đổi trong chế độ ăn uống và tập thể dục có thể giúp giảm huyết áp. Nói chuyện với bác sĩ về những thay đổi thích hợp.
Hạn chế cà phê: Caffeine là một chất kích thích có thể gây tăng huyết áp đột ngột.
Tránh căng thẳng đột ngột, và gắng sức, như nâng tạ nặng có thể gây tăng huyết áp đột ngột.
Hãy thận trọng với việc sử dụng aspirin: nói chuyện với bác sĩ trước khi dùng aspirin hoặc các thuốc khác mà ức chế đông máu bởi vì nó có thể làm tăng mất máu nếu có chứng phình động mạch vỡ.
Đặt lịch phẫu thuật nhanh – chọn bác sĩ theo yêu cầu
👉 Hỗ trợ tại Lạc Việt & kết nối bác sĩ từ Bạch Mai, Việt Đức, 108, Đại học Y, Nội tiết TW, BV K
Chuyên khoa Tai – Mũi – Họng
ThS.BS Nội trú Đặng Thị Hồng Ánh là bác sĩ trẻ, chuyên môn vững vàng trong lĩnh vực Tai – Mũi – Họng, hiện đang công tác tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương – một trong những đơn vị đầu ngành về chuyên khoa này tại Việt Nam.
Bác sĩ có kinh nghiệm thực tế trong khám và xử trí các bệnh lý cấp cứu Tai – Mũi – Họng, đồng thời đang tham gia khám và điều trị tại các cơ sở y tế uy tín.
Chuyên gia Nội tổng hợp – Hô hấp – Tim mạch
PGS.TS.BS Trần Hoàng Thành là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Hô hấp, Tim mạch và Nội tổng hợp, với hơn 45 năm kinh nghiệm trong khám và điều trị bệnh lý nội khoa.
Bác sĩ từng công tác tại các đơn vị đầu ngành như Trung tâm Hô hấp và Khoa Tim mạch – Bệnh viện Bạch Mai, đồng thời là Giảng viên cao cấp tại Đại học Y Hà Nội. Đây đều là những môi trường chuyên sâu, giúp bác sĩ có nền tảng chuyên môn vững vàng và kinh nghiệm lâm sàng phong phú.
Chuyên gia Nội thần kinh đầu ngành | Hơn 35 năm kinh nghiệm
Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ cao cấp Lê Văn Thính là một trong những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Nội thần kinh tại Việt Nam, với hơn 35 năm kinh nghiệm khám, điều trị và nghiên cứu chuyên sâu các bệnh lý thần kinh.
Hiện bác sĩ đang tham gia khám và điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Lạc Việt.
Thầy thuốc ưu tú | Chuyên gia Nội thận – Hồi sức cấp cứu | Hơn 35 năm kinh nghiệm
Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc ưu tú Bùi Văn Mạnh là chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực Nội thận – Lọc máu – Hồi sức cấp cứu – Ghép tạng, với hơn 35 năm kinh nghiệm điều trị, nghiên cứu và giảng dạy.
Chuyên gia Ung bướu – Ung thư Vú | Hơn 35 năm kinh nghiệm
Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Văn Định là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Ung bướu, đặc biệt chuyên sâu về Ung thư Vú, với hơn 35 năm kinh nghiệm khám, điều trị và phẫu thuật.
Chuyên gia đầu ngành Nội tiết – gần 40 năm kinh nghiệm
TS.BSCC Ngô Thị Phương là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Nội tiết – chuyển hóa, với gần 40 năm kinh nghiệm trong khám và điều trị các bệnh lý nội khoa phức tạp.
Bác sĩ từng giữ chức vụ Chủ nhiệm Khoa Nội tiết – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, đồng thời tham gia nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học chuyên sâu, đóng góp lớn cho ngành Nội tiết tại Việt Nam.
Hiện nay, bác sĩ đang tham gia khám và điều trị tại Bệnh viện Quốc tế Thăng Long Lạc Việt.