1. Khái niệm
Viêm nút đa động mạch là một bệnh tự miễn, gồm viêm những mạch máu có kích thước trung bình, làm cho mạch máu bị viêm và thương tổn như: Da, thần kinh trung ương, thần kinh ngoại biên, đường tiêu hóa, thận, tim, khớp, mắt, tai-mũi-họng, phổi. Mặc dù viêm nút đa động mạch là bệnh hiếm gặp, nhưng bệnh có thể trầm trọng, cần phải đi khám bác sĩ…
2. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
Nguyên nhân gây bệnh không rõ, nhưng có giả thuyết đưa ra là bệnh có liên quan đến kháng thể kháng virus viêm gan siêu vi B thông qua phản ứng mẫn cảm type 2, hoặc bệnh bạch cầu tế bào tóc.
Tuổi thường gặp 40-60 tuổi.Nam nhiều hơn nữ.
Có dùng thuốc bằng đường tĩnh mạch
3. Triệu chứng
Viêm đa động mạch thắt nút là một bệnh lý của đa hệ thống. Bệnh ảnh hưởng lên nhiều cơ quan như: Da, thận, thần kinh, đường tiêu hóa.
Người bệnh có những triệu chứng như mệt mỏi, sụt cân, chán ăn và sốt. Những triệu chứng thể hiện ở từng cơ quan:
– Da: Là nơi ảnh hưởng đầu tiên, người bệnh dễ dàng phát hiện, đặc biệt ở cẳng chân: Nổi những chấm đỏ, loét da, nốt, hoại tử…
– Hệ thần kinh: Nóng bừng, đau, châm chích ở tay, chân và mặt. Choáng váng, đột quị, suy nghĩ khó khăn.
– Thận: Tiểu protein, tăng huyết áp
– Dạ dày-ruột: Đau bụng, chảy máu đường tiêu hóa, nhồi máu ruột, ói mữa, tiêu chảy có máu hoặc không.
– Tim: Gây nhồi máu cơ tim, suy tim sung huyết
– Mắt: Bóc tách võng mạc, viêm cũng mạc.
– Sinh dục: Nhồi máu tinh hoàn.
4. Chẩn đoán bệnh
Không có dấu hiệu nào đặc trưng để chẩn đoán bệnh viêm đa động mạch thắt nút, mà phải kết hợp nhiều dấu hiệu.
Ngoài khám lâm sàng, còn cần phải làm một số xét nghiệm như:
– Xét nghiệm máu: Thấy tốc độ lắng máu tăng, (đây là xét nghiệm giúp theo dõi mức độ viêm và theo dõi bệnh viêm), bạch cầu máu tăng, chức năng thận, immoglobulin
– Xét nghiệm nước tiểu: Tìm protein trong nước tiểu.
– Sinh thiết da, cơ, thần kinh…
– Đánh giá sự dẫn truyền thần kinh
– Chụp động mạch đồ có cản quang, giúp phát hiện nơi mạch máu bị viêm.
5. Biến chứng
– Suy thận
– Huyết khối ở những mạch máu liên quan
– Hoại tử mô và cơ quan
– Đột quỵ
– Nhồi máu cơ tim
– Viêm đơn dây thần kinh đa ổ (mononeuritis multiplex)
– Bệnh lý thần kinh ngoại biên
– Thủng tạng rỗng (ruột)
6. Điều trị
Bệnh được chẩn đoán và điều trị sớm cho kết quả tốt. Mục tiêu điều trị làm giảm viêm động mạch, và kéo dài thời gian lui bệnh. Nếu bệnh không được điều trị có thể dẫn đến tử vong vì những biến chứng của viêm đa động mạch thắt nút là: Đột qụi tim, não, suy thận, suy tim và tổn thương ruột vĩnh viễn.
Việc chọn lựa điều trị như sau
Corticoid: Dùng liều cao bằng đường uống hoặc chích tĩnh mạch.
Thuốc ức chế miễn dịch: Giúp giảm viêm động mạch bằng cách ức chế phản ứng tự miễn.
Thuốc kháng virus: Khi bị viêm gan B, C, thuốc kháng virus kết hợp với ức chế miễn dịch cũng giúp ích trong điều trị
7. Chăm sóc lâu dài
7.1. Khuyến cáo về theo dõi:
Quản lý bệnh nhân:
Huyết đồ, tổng phân tích nước tiểu, bilan chức năng thận và gan.
Theo dõi sát các biến chứng nhiễm trùng.
Sớm phát hiệm các ung thư xuất hiện chậm (đặc biệt ở những bệnh nhân điều trị cyclophosphamide).
Các tác nhân phản ứng ở giai đoạn cấp tính như CRP có thể giúp đánh giá mức độ hoạt động của bệnh trong quá trình điều trị và theo dõi.
Chế độ ăn: Chế độ ăn ít muối nếu có tăng huyết áp đi kèm.
7.2.Tiên lượng:
Nếu không được điều trị, thường có tiên lượng kém, ước tính tỳ lệ sống còn 5 năm chỉ khoảng 13%.
Điều trị bằng steroid và thuốc gây độc tế bào có thể giúp tăng đáng kể tỷ lệ sống còn 5 năm lên đến 75–80%.
Độ sống còn được cải thiện hơn đối với những trường hợp có liên quan đến viêm gan B do việc đưa vào sử dụng các phác đồ kháng virus.
Tiên lượng kém hơn ở những bệnh nhân có tiểu protein, suy thận, tổn thương ở ống tiêu hóa, bệnh cơ tim, hoặc tổn thương ở thần kinh trung ương.