Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
I. Bệnh bướu sợi thần kinh là gì?
Bệnh bướu sợi thần kinh (Neurofibromatosis – NF) là một từ nói lên hai kiểu bệnh lý thần kinh da có tính di truyền, trong đó bệnh bướu sợi thần kinh týp 1 (Neurofibromatosis type 1 – NF1), hay cũng còn được biết dưới tên gọi là bệnh von Reckinghausen, thường gặp nhất trong nhóm bệnh này.
Bệnh được đề cập lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 13, nhưng đến thế kỷ thứ 19, bản chất của bệnh mới được Friederic Daniel von Recklinghausen mô tả một cách rõ ràng.
Bệnh bướu sợi thần kinh týp 1 là bệnh lý do sự rối loạn di truyền trên nhiễm sắc thể thường, gen gây bệnh nằm ở đầu gần của nhiễm sắc thể số 17. Suất độ 1/2600 đến 1/3000. Gần một nửa trường hợp có tính gia đình, còn lại là do những đột biến mới sau này. Có thể có những thay đổi rất nhiều về biểu hiện trên lâm sàng, thí dụ như mức độ trầm trọng của bệnh sẽ thay đổi trong số những người bị bệnh ngay trong cùng một gia đình hay giữa gia đình này với gia đình khác. Mức độ trầm trọng của bệnh không có sự khác nhau giữa những bệnh nhân có tính di truyền với những bệnh nhân do đột biến.
II. Lâm sàng
A. U sợi thần kinh type 1 (NF 1) :
Còn gọi là U sợi thần kinh ngoại biên – bệnh Von Recklinghausen – luôn luôn xuất hiện vào thời kỳ niên thiếu, tỉ lệ khoảng 1/3.000 trẻ. Trên 50% số trẻ bị bệnh có biểu hiện triệu chứng từ lúc 2 tuổi hay trước 5 tuổi. NF1 là rối loạn di truyền tính trội ở nhiễm sắc thể 17, tạo ra các u phát triển ở bất cứ vị trí nào trên cơ thể vào bất kỳ lúc nào. Đây là rối loạn di truyền phổ biến nhất trong các loại NF.
Phần lớn các trường hợp này là nhẹ và người bệnh có một cuộc sống bình thường.
Triệu chứng lâm sàng thường gặp của u sợi thần kinh type 1 (NF1) là:
– Có ≥6 đốm nâu trên da, d ≥ 0,5cm, màu cà phê sữa (café-au-lait spots), các đốm này có thể thấy ngay sau khi sinh, tăng số lượng và kích thước theo tuổi. Triệu chứng này có thể xuất hiện ở 1,8% trẻ sơ sinh, 25%-40% trẻ em và 14% người lớn bị NF1.
Các đốm da màu cà phê sữa cũng có thể xuất hiện ở những người không bị NF1 nhưng, đối với những người có ≥5 đốm ngoài da dạng này, đặc biệt xuất hiện trong những năm đầu đời trước 5 tuổi, cần được các Bác sĩ xem xét về nguy cơ có thể bị NF1.
– Tàn nhang ở những chỗ nếp gấp của da như nách, háng, dưới vú. Đây là những triệu chứng rõ ràng của NF1.
– Các khối u lành tính ở dưới da hoặc sâu hơn, phát triển dần khi trẻ lớn lên. Đây là các khối u sợi thần kinh, người bệnh có thể không mang một khối u nào hoặc có đến vài trăm khối u trên cơ thể. Các khối u này có kích thước đa dạng, cứng hoặc mềm, có thể đau hoặc không đau. Chúng có thể gia tăng kích thước cũng như số lượng ở tuổi dậy thì hoặc trong thời gian thai nghén, gây mất thẩm mỹ hoặc trở ngại nhiều cho sinh hoạt của người bệnh, đôi khi phải cần đến phẫu thuật can thiệp.
NF1 có thể gây ra những tổn thương đa dạng:
+ Mắt: làm lồi mắt, giảm thị lực, mù do các khối u phát triển trên dây thần kinh thị giác. Nốt Lisch (khối u nhỏ) màu vàng, nâu thường xuất hiện trên mống mắt nhưng không gây rối loạn thị giác. Chúng thường được phát hiện ở tuổi 6-10 với tỉ lệ 97-100% bệnh nhân bị NF1 và là triệu chứng giúp thầy thuốc chẩn đoán xác định bệnh.
+ Đầu: động kinh, nhức đầu, u não, thiểu năng tuần hoàn não, mất khả năng học tập (25%-40%), chậm phát triển tâm thần (5%-10%), đầu chi to quá khổ.
+Tim mạch: có biểu hiện cao huyết áp.
+ Tiêu hóa: thường đau bụng, nôn mửa, táo bón mạn tính hoặc tiêu chảy.
+ Sinh dục: dậy thì sớm hoặc dậy thì muộn.
+ Cơ xương khớp: Vẹo cột sống (scoliosis) thường xuất hiện sớm.
Bệnh có thể gây khớp giả, biến dạng đầu chi, biến dạng các xương dài (chân vòng kiềng).
+ Các biến chứng khác : chậm biết đi, chậm biết nói, tầm vóc lùn, chậm phát triển trí tuệ (IQ thấp hơn trung bình), học kém, khối lượng và kích thước các khối u tăng trong thai kỳ, ngứa dữ dội, trì trệ tâm sinh lý. Nguy cơ thoái triển thành ung thư có tỉ lệ thấp (3%-12%).
Các biểu hiện ở nội tạng thể hiện mức độ trầm trọng của bệnh NF1 chứ không phải là các triệu chứng rầm rộ ngoài da.
B. U sợi thần kinh type 2 (NF 2)
Còn gọi là U sợi thần kinh song phương (NF bilateral).
Bệnh xuất hiện do rối loạn di truyền trội ở nhiễm sắc thể 22, có những khối u thần kinh trung ương như u thị giác, u tiền đình. Bệnh thường không xuất hiện trước tuổi dậy thì, tỉ lệ hiếm hơn NF1, khoảng 1/50.000 nhưng là dạng bệnh NF nặng hơn. NF2 phát triển trên cả hai sợi thần kinh ở tai dẫn tới nghe kém và thường là những triệu chứng đầu tiên của bệnh.
Các triệu chứng lâm sàng khác gồm:
– Các đốm nâu cà phê sữa ở da, có ít và xuất hiện muộn hơn trong NF1;
– Các khối u sợi thần kinh lành tính dạng nốt dưới da;
– Triệu chứng tiền đình như ù tai, nghe kém, chóng mặt, rối loạn thăng bằng do các khối u chèn ép dây thần kinh tiền đình.
Phẫu thuật sớm lấy bỏ khối u giúp bệnh nhân bảo tồn được sức nghe.
– Khối u thần kinh trong sọ như u thần kinh đệm, u màng não, u tủy sống,
– Đục thủy tinh thể sớm.
III. Cận lâm sàng
Chẩn đoán xác định NF chủ yếu dựa vào lâm sàng. Xét nghiệm về DNA có thể giúp chẩn đoán sớm các trường hợp trẻ em mắc bệnh NF2 trước khi có biểu hiện lâm sàng.
CT hay MRI có thể dùng để xác định các khối u nằm trong não bộ hoặc thần kinh trung ương.
IV. Chẩn đoán phân biệt
A/- NF1:
B/- NF2: cần chẩn đoán phân biệt với các khối u, bướu dạng khác ở não bộ và thần kinh trung ương.
V. Điều trị
– Trong hầu hết các trường hợp, bệnh nhân NF1 có thể sống và làm việc bình thường.
– Chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu nào cho bệnh U sợi thần kinh ; vấn đề điều trị hiện nay chỉ giới hạn ở việc theo dõi mức độ phát triển của bệnh và can thiệp khi có triệu chứng. Ví dụ: phẫu thuật được áp dụng khi kích thước các khối u thần kinh lớn nhanh và gây triệu chứng; phối hợp với chỉnh hình (orthopedics) khi có biến chứng ở xương như vẹo cột sống hay chân vòng kiềng (bowing of the tibia) hoặc phẫu thuật thẩm mỹ nếu cần cho những bất thường trên da.
– Thuốc có tác dụng ức chế men tyrosine kinase thuộc nhóm IMATINIB (Glivec, Gleevec) bước đầu cho thấy có khả năng điều trị các khối u thần kinh trong NF1.
– Trẻ em bị NF1 cần được khám bệnh và theo dõi định kỳ 6-12 tháng ở các Bác sĩ Nhi khoa.
– Vấn đề giáo dục sức khoẻ và tư vấn về NF rất quan trọng, đặc biệt với những người có gia đình. Các đôi vợ chồng cần được tư vấn kỹ trước khi quyết định có con nếu họ hay người thân trực hệ của họ mang bệnh NF.
– Việc điều trị tối ưu cho NF trong tương lai phụ thuộc vào ngành nghiên cứu phân tử genes (molecular genes) để có thể trị bệnh từ gốc và tránh phẫu thuật . Hiện nay, người ta đã phân lập được gen NF1 trên nhiễm sắc thể số 17 và gen NF2 trên nhiễm sắc thể số 22. Đây là những genes tổng hợp ra các proteins ức chế sự phát triển của các tế bào u bướu (tumor supressing genes). Do vậy, một khi các genes này bị thay đổi do bị đột biến (mutation), chúng sẽ tạo ra các khối u như trong trường hợp của NF.
Tóm lại, U sợi thần kinh – NF- là một bệnh do di truyền, không phải là bệnh ác tính hay bệnh truyền nhiễm. Vấn đề chính là bệnh gây nên tình trạng cơ thể bị dị dạng, mất thẩm mỹ nghiêm trọng, làm bệnh nhân và gia đình xấu hổ, mang nhiều mặc cảm.
Cần quan tâm đến vấn đề giáo dục sức khỏe, tư vấn cho những người bị bệnh này trước khi họ quyết định có con. Ngoài ra, cộng đồng cần có những quan niệm đúng đắn và có biện pháp giúp đỡ thiết thực đối với những người không may bị chứng bệnh di truyền này để bệnh nhân không bị cô lập và có thể hòa nhập vào cuộc sống hàng ngày
Nguyên Cố vấn cao cấp Trung tâm Ung bướu – Tế bào gốc, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Huyết học – Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa
Nguyên là Phó Trưởng khoa Tai – Tai Thần kinh – Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương.
Hiện nay Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa có lịch thăm khám và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa An Việt
Bác sĩ Chuyên khoa Ung bướu – Nội tiết
Chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tuyến giáp ở Việt Nam
Chủ tịch CLB người bệnh ung thư tuyến giáp và các bệnh lý tuyến giáp
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 500.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 250.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 300.000đ |