Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
I. Các bệnh lý:
1. Nhiễm trùng rốn khu trú
Nhiễm trùng rốn khu trú: mất ranh giới bình thường giữa da và dây rốn, dây rốn viêm đỏ có mủ, đôi khi có rỉ máu. Nguyên tắc điều trị: điều trị nhiễm trùng. Giúp rốn mau rụng và khô. Kháng sinh điều trị: Oxacillin uống dùng 5 – 7 ngày, hoặc Cephalosporin thế hệ 2 uống (Cefaclor, Cefuroxime).
Chăm sóc rốn: đây là một việc rất quan trọng cần làm mỗi ngày nhằm mục đích: giảm tình trạng nhiễm trùng, rốn mau khô và rụng.
Chăm sóc tại nhà và phòng ngừa: các bà mẹ cần được hướng dẫn cách chăm sóc rửa rốn tại nhà mỗi ngày 1 – 2 lần bằng nước muối sinh lý 0,9% và dặn dò đem trẻ trở lại tái khám nếu rốn còn chảy mủ hay dịch sau 2 ngày hoặc khi tình trạng nhiễm trùng nặng hơn. Phòng ngừa: bảo đảm vô trùng trước và sau khi sinh. Cắt và cột rốn bằng dụng cụ vô trùng. Rửa tay trước khi săn sóc trẻ. Để rốn hở và khô, tránh đắp hoá chất hay vật lạ vào rốn. Để hở, không băng kín là biện pháp làm rốn mau khô và mau rụng.
2. Nhiễm trùng rốn lan tỏa
Nhiễm trùng rốn nặng: nhiễm trùng lan ra mô liên kết xung quanh, gây viêm đỏ cứng quanh rốn, tạo quầng rốn đường kính lớn hơn 2cm. Trẻ có kèm biểu hiện nhiễm trùng toàn thân (sốt cao, lừ đừ, bỏ bú). Nhiễm trùng lan theo đường máu: thấy ổ mủ ở da. ở chi ở phổi… kèm theo triệu chứng nhiễm trùng huyết (tổn thương đa cơ quan). Soi cấy mủ rốn, mủ áp-xe.Cấy máu nếu viêm tấy lan tỏa.
Điều trị: săn sóc tại chỗ bằng rửa rốn bằng nước muối sinh lý 0,9% sau đó thoa trên rốn bằng dung dịch Milan 1%, ngày thoa 2 lần sáng – chiều.
Kèm kháng sinh toàn thân: Oxacillin 50 – 100 mg/kg/ngày tiêm tĩnh mạch chậm (hoặc Nafcillin, Vancomycin) dùng 7 – 10 ngày + Gentamycin 5 mg/kg/ngày. Tiêm bắp dùng 7 ngày. Hay một mình Aminoglycoside hoặc Cephalosporin thế hệ thứ III hoặc theo kháng sinh đồ. Nếu nghi ngờ vi trùng hiếm khí hay vi trùng hỗn hợp thêm Metrodiazol.
3. Bệnh uốn ván rốn
Vi khuẩn Clostri diumtetani xâm nhập vào cơ thể trẻ qua vết cắt rốn. Vi khuẩn uốn ván có thể sống trong điều kiện hiếm khí. Sau khi vi khuẩn uốn ván vào cơ thể trẻ, thường không làm phát sinh ngay các triệu chứng rõ rệt. Trong thời kỳ ủ bệnh (trung bình 7 ngày, còn sớm hay muộn hơn tùy theo mức độ độc tố mà vi khuẩn tiết ra). Dựa vào khoảng thời gian ủ bệnh có thể tiên lượng được một phần bệnh nặng hay nhẹ. Ở thời kỳ toàn phát, trẻ sốt 38 – 39oC, có khi lên 40 – 410C, quấy khóc, bỏ bú, hàm cứng càng ngày càng rõ, dần dần xuất hiện co giật và co cứng. Mỗi khi lên cơn co giật, mặt trẻ sơ sinh nhăn lại, miệng chúm chím, sùi bọt mép, hai tay nắm chặt; nếu cơn giật nhẹ thì da của trẻ sơ sinh vẫn hồng hào, nhưng nếu co giật mạnh liên tục sẽ kèm theo những cơn ngừng thở vì cơ thanh quản co lại, làm cho trẻ tím tái, chân tay lạnh, nhiều nguy cơ đe dọa tính mạng.
Điều trị: cần phát hiện sớm khi trẻ mới bắt đầu bỏ bú. Cho trẻ nằm yên tĩnh, tránh mọi kích thích bên ngoài, tránh thăm khám nhiều. Nên đặt trẻ trong lồng kính hoặc giường ấm, tránh tiếng động và ánh sáng. Bảo đảm nhu cầu nước, điện giải, năng lượng bằng truyền tĩnh mạch. Cho ăn sữa mẹ hoặc sữa đặc hiệu qua ống sonde dạ dày. Dự phòng viêm phổi do hít chất nhầy từ hầu họng bằng cách cho ăn ít hoặc không ăn nếu còn đe dọa nôn. Vệ sinh rốn bằng oxy già. Kháng huyết thanh chống uốn ván từ 10.000 – 20.000 đơn vị/ ngày
Kháng sinh đề phòng bội nhiễm, thường dùng nhóm Cephalosporin 40 – 50mg/kg/ngày tùy theo tình trạng nhiễm trùng. Chống co giật bằng các loại thuốc an thần Phenobarbital 15 – 20mg/kg/ngày. Diazepam 0,5 – 10mg/kg/ngày. Tiêm tĩnh mạch khi co giật. Chlorpromazin có thể sử dụng để chống co giật. Thông khí phổi viện trợ nếu có khó thở, tím tái. Trường hợp nặng phải dùng máy thở.
Phòng ngừa: đỡ sinh an toàn, bảo đảm đầy đủ các phương tiện đỡ sinh vô khuẩn. Khi cắt rốn phải sát khuẩn bằng cồn iod 1 – 3%, tuân thủ mọi nguyên tắc vô khuẩn. Hướng dẫn bà mẹ đi khám thai định kỳ tránh sinh rớt. Tiêm vắc-xin phòng uốn ván cho mẹ: tiêm 2 mũi vắc-xin phòng uốn ván trong quá trình mang thai. Kháng thể uốn ván được tạo ra trong cơ thể mẹ truyền sang cho thai có khả năng phòng bệnh cho trẻ trong giai đoạn sơ sinh. Khoảng cách giữa 2 lần tiêm ít nhất 30 ngày.
4. Bệnh động mạch rốn duy nhất
Bình thường trong dây rốn liên kết giữa mẹ và thai có 3 mạch máu: 2 động mạch và 1 tĩnh mạch. Bất thường ở dây rốn thường gặp nhất là 1 động mạch rốn, chiếm 0,08 – 1,9% trong tổng số thai kỳ. Bất thường cấu trúc khác có thể kèm theo gồm: hệ niệu sinh dục, hệ tim mạch, hệ xương khớp, hệ thần kinh và rối loạn nhiễm sắc thể. Khi có động mạch rốn duy nhất thì cần khảo sát kỹ hình thái thai nhi. Khi trẻ sinh ra. Khoảng 30% những trẻ có 1 động mạch rốn, có bất thường bẩm sinh khác đi kèm. Cần thăm khám cuống rốn trẻ cẩn thận và tìm các dị tật khác đi kèm. Để điều trị thích hợp.
5. Bệnh u hạt rốn
U hạt rốn là tình trạng chậm biểu bì hóa sau rụng rốn khiến mô hạt phát triển quá mức.
Nguyên nhân: thông thường u hạt rốn xảy ra ở những trẻ chậm rụng rốn, thường quá 6 – 8 ngày sau sinh. Điều này tạo điều kiện u hạt phát triển. Chẩn đoán: Cơ năng: trẻ rụng rốn trễ, u hạt rỉ dịch vàng nhạt vùng rốn, mủ đục hôi nếu có bội nhiễm.
Thực thể: khám thấy u hạt màu đỏ nhạt. U hạt nhỏ được chấm đốt bằng Nitrat bạc 75% (Ag NO3) 2 lần/tuần trong 4 tuần. Thủ thuật cần được nhân viên y tế thực hiện tránh gây bỏng xung quanh chân rốn. Cần bôi vaseline xung quanh rốn trước khi thực hiện thao tác để tránh gây bỏng nếu thuốc có chạm xung quanh. Nếu chấm u hạt bằng nitrat thất bại hoặc u hạt to, có cuống; thì việc điều trị bằng đốt điện.
6. Tồn tại ống niệu rốn
Bình thường thì ống niệu rốn nối từ xoang niệu sinh dục và rốn sẽ được đóng kín và xơ hóa thành dây chằng rốn – bàng quang từ trong thời kỳ bào thai. Tồn tại ống rốn niệu là sự tồn tại 1 ống nối từ rốn vào bàng quang. Như vậy, nước tiểu có thể trào ngược từ bàng quang vào rốn. Tổn thương nơi nối giữa bàng quang và rốn để cho nước tiểu đổ ra cuống rốn, cuống rốn luôn rỉ dịch liên tục, đôi khi trẻ bị nhiễm trùng tiểu. Bệnh lý này khi được phẩu thuật. Giải phóng tồn tại ống rốn niệu.
7. Thoát vị rốn
Trẻ được sinh ra với dây rốn gắn ở bụng. Trong vòng khoảng 5 – 10 ngày sau khi sinh, cuống rốn teo dần và rụng đi, vết thương tự lành và tạo nên rốn của trẻ. Lỗ ở thành bụng nơi dây rốn đi qua sẽ tự đóng lại khi trẻ lớn lên. Thoát vị rốn xảy ra khi các cơ bụng đóng không kín.
Cách phát hiện: một khối tròn nổi lên ngay tại vị trí lỗ rốn, có thể nhìn thấy khối lồi này và cảm nhận nó khi ấn thật nhẹ nhàng lên vùng rốn. Khối thoát vị có thể to lên khi trẻ khóc, ho, ưỡn người để đi ngoài hay khi trẻ ngồi dậy.
Khối này có thể nhỏ đi hoặc biến mất khi bé thư giãn. Thoát vị rốn thường không gây đau. Thoát vị rốn ở trẻ nhỏ hiếm khi gây biến chứng.Thoát vị gồm mạc nối hay một phần ruột non. Tự khỏi khi trẻ 1 tuổi, ngay cà khi thoát vị rốn lớm 5cm đường kính cũng tự khỏi khi trẻ 5 – 6 tuổi. Phẫu thuật không nên làm trừ khi còn tồn tại 4 – 5 tuổi, gây ra triệu chứng nghẹt hay trở lên lớn hơn sau 1 tuổi.
II. Các câu hỏi liên quan:
1. Câu hỏi: Thai nhi là có một động mạch rốn duy nhất.
Ngày 2/3/ 2010 tôi đi siêu âm chuẩn đoán sàng lọc trước khi sinh ở tại bệnh viện phụ sản Từ Dũ , kết quả siêu âm là có một bất thường ở thai nhi là có một động mạch rốn duy nhất. Hỏi bác sĩ khám hôm đó về kết quả thì bác si chỉ bảo đến đâu hay tới đó, nếu thai nhi sống được thì tốt, không thì có khả năng lưu thai và không giải thích gì thêm về nguyên nhân, ảnh hưởng và các hướng dẫn khác. Tôi rất lo lắng về kết quả này, mong người có chuyên môn giải thích rõ hơn.
Trả lời:
Bình thường trong dây rốn liên kết giữa mẹ và thai có 3 mạch máu: 2 động mạch và 1 tĩnh mạch. Bất thường ở dây rốn thường gặp nhất là 1 động mạch rốn, chiếm 0,08% – 1,9% trong tổng số thai kỳ. Bất thường cấu trúc khác có thể kèm theo gồm: hệ niệu sinh dục, hệ tim mạch, hệ xương khớp, hệ thần kinh và rối loạn nhiễm sắc thể. Khi có 1 động mạch rốn duy nhất thì cần khảo sát kỹ hình thái thai nhi (siêu âm hình thái học) xem có kèm bất thường nào khác hay không. Một số tác giả đề nghị rằng chọc ối để khảo sát nhiễm sắc thể chỉ thực hiện khi có kèm bất thường cấu trúc khác. Nếu chỉ có 1 động mạch rốn duy nhất và không kèm bất thường nào khác thì tiên lượng tốt. Sau sinh bé cần được khám kỹ về tim để xem có bất thường hay không, vì chẩn đoán trước sinh có thể phát hiện được khoảng 62% những bất thường về tim.
Bạn cần ăn uống đầy đủ các chất như các sản phụ khác, không có chế độ ăn đặc biệt nào.
Các xét nghiệm thường qui và sàng lọc trước sinh theo qui trình khám thai là đầy đủ. Với những trường hợp có 1 động mạch rốn, bạn nên được siêu âm Doppler màu để khảo sát kỹ hơn nữa về hệ tim mạch thai nhi.
2. Câu hỏi: Tồn tại ống niệu rốn
Cháu em được 20 ngày tuổi, rốn cứ rỉ ít dịch. Đi khám được BS chẩn đoán là tồn tại ống niệu rốn, khuyên về vệ sinh vùng rốn thôi, nhưng em đọc trên mạng thấy phải mổ bệnh mới hết. Vậy BS cho em hỏi, khi nào thì nên mổ ạ?
Trả lời
Bình thường trong thời kỳ bào thai, ống niệu rốn nối từ xoang niệu sinh dục và rốn sẽ được đóng kín và xơ hóa thành dây chằng rốn – bàng quang, nhưng vì một lý do nào đó mà ống này không đóng lại, được gọi là tồn tại ống rốn ruột (tồn tại ống niệu rốn), có sự thông thương từ lỗ rốn (bên ngoài) với bàng quang của bé.
Việc điều trị chủ yếu là phẫu thuật cột cắt ống rốn, nhưng tùy theo sức khỏe của bé và đường kính của ống, BS sẽ chọn thời điểm phẫu thuật thích hợp.
Trường hợp của bé, có thể là do bé còn quá nhỏ nên BS đã trì hoãn cuộc mổ. Em nên làm theo hướng dẫn của BS rồi sắp xếp cho bé mổ trong thời gian nhũ nhi (từ 2 tháng đến 12 tháng tuổi).
3. Câu hỏi: Dây rốn quấn cổ
Dây rốn quấn cổ có phải là nguyên nhân chỉ định sinh mổ không ?
Trả lời:
Dây rốn quấn cổ thực sự không phải là chỉ định mổ lấy thai. Khả năng sanh thường còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác như: kích thước khung chậu của mẹ, trọng lượng của thai nhi, ngôi thai…
Ví dụ: dù em bé có bị dây rốn quấn cổ hay không mà bác sĩ khám thấy khung chậu mẹ hẹp toàn diện thì cũng có chỉ định sanh mổ.
Thực tế cho thấy có nhiều trường hợp vẫn có thể sanh thường dù dây rốn quấn cổ em bé 1-2 vòng. Tuy nhiên, dây rốn quấn cổ thai đôi khi cũng có ảnh hưởng đến tiến trình chuyển dạ, chẳng hạn nếu trường hợp dây rốn ngắn sẽ làm ngôi thai không xuống được.
Do đó, trong cuộc sanh, bác sĩ sẽ theo dõi tình trạng tim thai, nếu có dấu hiệu bất thường, chèn ép… hoặc ngôi thai không xuống sẽ có chỉ định can thiệp kịp thời.
Nguyên Cố vấn cao cấp Trung tâm Ung bướu – Tế bào gốc, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Huyết học – Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa
Nguyên là Phó Trưởng khoa Tai – Tai Thần kinh – Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương.
Hiện nay Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa có lịch thăm khám và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa An Việt
Bác sĩ Chuyên khoa Ung bướu – Nội tiết
Chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tuyến giáp ở Việt Nam
Chủ tịch CLB người bệnh ung thư tuyến giáp và các bệnh lý tuyến giáp
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 500.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 250.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 300.000đ |