Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
1 Đại cương
Vảy phấn đỏ nang lông được Tarral mô tả lần đầu tiên vào năm 1828, được đặt tên bởi Besnier năm 1889. Đây là một bệnh rối loạn sẩn vảy mãn tính chưa rõ nguyên nhân, đặc trưng bởi mảng vảy màu hung đỏ, dày sừng lòng bàn tay, sẩn sừng quanh nang lông. Bệnh có thể tiến triển thành đỏ da toàn thân với những đảo da lành.
Một vài thông báo còn mô tả PRP liên quan bệnh ác tính.
2 Nguyên nhân: chưa rõ.
Một số có tính chất gia đình, một số có liên quan đến nhiễm liên cầu.
3 Triệu chứng lâm sàng
Dạng PRP gia đình khởi phát từ từ, dạng mắc phải khởi phát cấp tính.
Da: PRP đặc trưng bởi những mảng bờ rõ vảy màu hung đỏ, có khi lan toàn thân, thường có những đảo da lành. Dày sừng quanh nang lông thường thấy ở vùng mu ngón gần, cổ tay, khuỷu tay. Dày sừng lòng bàn tay gặp ở hầu hết các bệnh nhân. Giai đoạn đầu của bệnh có thể có ngứa.
Móng: bờ tự do móng màu vàng nâu, dày sừng dưới móng, dày giường móng, móng có thể bị lỗ rỗ.
Niêm mạc: có thể có những mảng trắng ở niêm mạc má, trắng, trợt.
Mắt: có thể có lộn mi.
Các dạng lâm sàng:
Type I: type kinh điển ở người lớn (classic adult type). Dạng thường gặp nhất của PRP, chiếm khoảng 50% các trường hợp PRP. Khởi phát cấp tính, lâm sàng điển hình bao gồm đỏ da với những đảo da lành, dày sừng lòng bàn tay bàn chân, dày sừng nang lông. Type này tiên lượng tốt nhất, khoảng 80% bệnh nhân thuyên giảm bệnh trong vòng 3 năm.
Type II: type không điển hình ở người lớn (atypical adult type). Chiếm khoảng 5% các trường hợp. Đặc trưng bởi tổn thương dạng vảy cá, có thể chàm hoá, rụng tóc, kéo dài thường từ 20 năm trở lên.
Type III: type kinh điển ở trẻ em (classic juvenile type). Chiếm khoản 10% các trường hợp. Rất giống type I nhưng khởi phát trong 2 năm đầu tiên của cuộc đời. Bệnh thuyên giảm sớm hơn so với type I, trung bình là 1 năm.
Type IV: type vòng tròn ở trẻ em (circumscribed juvenile type). Chiếm khoảng 25% các trường hợp. Xuất hiện trước tuổi dạy thì. Đặc trưng bởi những vùng da giới hạn rõ ở khuỷu tay và đầu gối với sự dày sừng nang lông và đỏ. Tiến triển không rõ.
Type V: type không điển hình ở trẻ em (atypical juvenile type). Chiếm khoảng 5% các trường hợp. Hầu hết những ca PRP gia đình thuộc type này. Bệnh khởi phát sớm và diễn biến mạn tính. Đặc trưng bởi dày sừng nang lông, dày da ở lòng bàn tay, bàn chân hiếm khi đỏ da.
Type VI: PRP liên quan với HIV. Bệnh không đáp ứng với những điều trị thông thường nhưng đáp ứng với liệu pháp kháng Retrovirus.
Cận lâm sàng
Không có xét nghiệm cận lâm sàng nào có thể khẳng định chẩn đoán PRP. Chẩn đoán dựa vào sự tương quan giữa lâm sàng và mô bệnh học.
Mô bệnh học: không có đặc trưng về mặt mô bệnh học nhưng bệnh giúp loại trừ những bệnh sẩn vảy và đỏ da khác.
Kiểm tra sự bất giải điện giải đồ, giảm albumin, nhiễm khuẩn thứ phát.
4 Điều trị tại chỗ:
Calcipotriol: đây là thuốc bôi điều trị bệnh vảy nến. Tuy nhiên đã có thông báo về sự thành công trong điều trị PRP bằng Calcipotriol.
Kem làm ẩm da làm giảm nứt, khô.
Nguyên Cố vấn cao cấp Trung tâm Ung bướu – Tế bào gốc, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Huyết học – Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa
Nguyên là Phó Trưởng khoa Tai – Tai Thần kinh – Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương.
Hiện nay Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa có lịch thăm khám và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa An Việt
Bác sĩ Chuyên khoa Ung bướu – Nội tiết
Chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tuyến giáp ở Việt Nam
Chủ tịch CLB người bệnh ung thư tuyến giáp và các bệnh lý tuyến giáp
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 500.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 250.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 300.000đ |