Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
U xương hàm do răng là bệnh lý của các khối u phần xương vùng hàm mặt.
2. Phân loại
2.1. Khối u viêm nhiễm và tăng sản:
Loại xơ biểu mô.
U hạt và nang chân răng (cuống răng). do U hạt và nang quanh răng trên răng sống do nang thân răng.
Loại liên kết.
– U lợi xơ (Épulis fibreux).
– U lợi huỷ cốt bào.
2.2. Loạn sản phôi:
Loạn phôi đơn phát triển có giới hạn:
– U men đặc tạo răng (A amantiome).
– U lợi bẩm sinh.
Loạn phôi phát triển không giới hạn: Do U men thể nang.
Loạn phôi ung thư hoá.
2.3. U răng (Dentom).
– U răng ngoài răng.
– U răng trong răng.
3. Triệu chứng
– Diễn biến của bệnh thường thầm lặng cả quá trình phát triển của u. Không đau tại chỗ, không ảnh hưởng toàn thân, không sốt và ít ảnh hưởng chức năng ăn nhai. Chỉ khi u nang bị bội nhiễm, có đường rò, ngách tiển đình bị phồng, xương bị phá huỷ nhiều mới ảnh hưởng, và lúc này có khi bệnh nhân mới tới khám. Khi khám có thể thấy thiếu một răng, có răng chết hoặc mọc sai vị trí, kết hợp với XQ khi đó có chẩn đoán khá chính xác.
– Chụp XQ chếch hàm, panorama, Blondeau, film cắn, có khi chỉ chụp phim một hoặc một nhóm răng khi nghĩ đến u hạt, nang cuống răng.
Thực tế lâm sàng thường gặp dạng u nang sau: Nang thân răng, u men thể nang và u men đặc tạo răng. Còn các loại u khác hiếm gặp.
4. Một số thể bệnh
– Để trình bày cụ thể chúng ta lần lượt mô tả các khối u sau: U men thể nang.
– U men đặc tạo răng.
– Nang thân răng.
4.1. U men thể nang:
U men thể nang là một thể hay gặp nhất trong u lành tính xương hàm nguyên nhân do răng, nó chiếm quá 50% các u lành tính khu trú xương hàm.
4.1.1. Đặc điểm của u:
– Thường gặp ở tuổi thanh niên hay trung niên, tuy nhiên cüng có khi gặp ở tuổi thiếu niên và người già.
– Đa số u khu trú ở thân xương hàm dưới.
– Khi u ở giai đoạn cuối gây biến dạng mặt, có thể làm tự gẫy xương hàm dưới.
4.1.2. Tiên lượng:
– U men thể nang phát triển chậm từ vài năm đến hàng chục năm. Ở giai đoạn đầu không ảnh hưởng đến toàn thân, do vậy rất khó phát hiện để điều trị sớm.
– Nếu không được điều trị, để đến muộn hoặc giai đoạn cuối, u có thể dẫn đến tự gẫy xương hàm, nhiễm trùng và thực tế đã gặp có trường hợp thoái hoá ác tính. U hay tái phát khi điều trị phẫu thuật bảo tồn do nhiều nguyên nhân khác nhau.
4.1.3. Lâm sàng:
– Ở tuổi nào cüng gặp nhưng hay gặp ở tuổi trẻ.
– U thường phát triển chậm, vài năm đến hàng chục năm. Giai đoạn đầu không có dấu hiệu lâm sàng, có khi tình cờ chụp XQ phát hiện được u.
– Đa số u cư trú ở góc xương hàm dưới, lan lên cành cao đến lồi cầu và mỏm vẹt, có khi lan ra vùng cằm và sang bên đối diện.
– Giai đoạn đầu bệnh nhân không để ý và có khi cả quá trình bệnh không hoặc ít ảnh hưởng đến sức khoẻ toàn thân. Da và niêm mạc vị trí có u bình thường.
– Khi u phát triển to làm biến dạng khuôn mặt, phá huỷ xương và làm phồng xương hàm ở phía ngoài da và ngách tiền đình lợi (có dấu hiệu bóng bàn). Có khi thấy dấu ấn răng ở niêm mạc vị trí u bởi răng đối diện.
– Răng ở trên khối u thường lung lay, có khi tự rụng hoặc đã được nhổ bỏ (ổ nhổ không liền). Đôi khi thấy thiếu một răng thường là răng số 8 hoặc số 7. Sờ thấy u gồ ghề, có dịch hoặc dấu hiệu bóng bàn. Khi u bị bội nhiễm, nhiễm trùng sẽ gây phản ứng sốt.
Tại chỗ:
– Loét phần niêm mạc, chảy máu làm bệnh nhân đau, rối loạn ăn uống, làm bệnh nhân gầy sút nhanh.
– U men thể nang ở hàm trên có khi thấy triệu chứng ở xoang hàm nhiều hơn. Lúc đầu u nhỏ, khi muộn làm phồng phía môi – nền müi hoặc vòm miệng cứng. Khi đó u có thể thông với xoang hàm.
4.1.4. Các xét nghiệm:
XQ:
– Chụp các tư thế chếch hàm, thẳng mặt, toàn cảnh (panorama) có hình ảnh nang một ổ hoặc nhiều ổ. Tổ chức xương bị phá huỷ rộng nhưng khu trú rõ.
1/4 hình ảnh là nang một ổ lớn cư trú gọn với bờ xương còn rõ, thường có thêm một răng ngầm nằm ở phía dưới đáy u.
– Gần 1/4 hình ảnh đặc biệt, không điển hình như hình tuyết rơi hoặc một đám lớn tiêu xương hay hiếm hơn là hình các gai xương và vỏ xương vỡ lởm chởm nham nhở.
– Quá 1/2 hình nang nhiều ổ, tổ chức bị phá huỷ rộng hình tổ ong.
Chọc hút nang : Thường có dịch vàng, khi nang bội nhiễm, nhiễm trùng có mủ lẫn dịch màu nâu.
Sinh thiết: Để chẩn đoán không cần thiết vì dễ gây bội nhiễm, khó phẫu thuật.
4.1.5. Điều trị:
– Duy nhất bằng phẫu thuật.
– Các hình thức phẫu thuật phải căn cứ vào tuổi tác của bệnh nhân, tình trạng khối u ở giai đoạn nào và các yếu tố khác.
Có một số hình thức phẫu thuật thường áp dụng sau:
Phẫu thuật bảo tồn.
– Chỉ nạo sạch khối u, nếu có nhiều nang cần làm tỉ mỉ từ nang này qua nang khác, sau đó dùng đốt điện để cầm máu và làm triệt để u, có thể đổ đầy các hốc xương bằng bột xương đông khô tùy loại.
– Hình thức phẫu thuật này áp dụng trên bệnh nhân còn nhỏ tuổi, hoặc lớn tuổi nhưng u còn nhỏ chưa gây biến dạng khuôn mặt nhiều, bờ xương còn đủ chắc, răng chưa lung lay, chưa sai khớp cắn.
Cắt đoạn xương hàm:
– Được chỉ định khi u đã quá to, làm biến dạng mặt, bờ xương hàm quá mỏng có khả năng tự gẫy xương hàm.
– Sau cắt đoạn xương hàm có thể tạo hình phục hồi ngay bằng cấy ghép xương tự thân bằng xương sườn, mào xương chậu, hoặc có điều kiện cấy ghép xương mào chậu, xương mác có cuống mạch nuôi bằng vi phẫu thuật.
– Nếu không tạo hình phẫu thuật ngay, sau cắt đoạn thường phải có phương tiện “giữ khoảng” phần xương còn lại để đúng khớp cắn, tổ chức phần mềm không bị co kéo, tạo điều kiện thuận lợi cho bước phẫu thuật sau.
– Để giữ khoảng có thể bằng nẹp vít hoặc đinh Kishner ngay sau cắt đoạn xương hoặc cho bệnh nhân dùng hàm giả hướng dẫn khớp cắn (hàm Wankewitz). Máng này được làm trước khi phẫu thuật. Sau phẫu thuật ổn định cần cho bệnh nhân đeo ngay.
4.2. Nang thân răng:
– Nang thân răng thuộc nhóm các u nang xương hàm do răng. Tỷ lệ ít gặp hơn so với u men xương hàm và nang chân răng. Hay gặp nang bọc trên thân một chiếc răng, thường là răng vĩnh viễn mọc ngầm. Thực tế trên lâm sàng và XQ có thể gặp các dạng sau:
– Trên mặt nhai của một răng sữa chưa mọc được.
– Thân một răng vĩnh viễn chưa mọc được.
– Thân một răng vĩnh viễn chưa mọc được mà trên đó không có răng
sữa (răng số 6,7,8).
– Đa số các tác giả quan sát thấy nang thân răng ở hàm trên nhiều hơn
hàm dưới.
4.2.1. Triệu chứng:
Giai đoạn thầm lặng:
Không có biểu hiện gì đặc biệt, khám thấy thiếu một răng nanh hoặc răng nanh sữa vẫn còn tồn tại lung lay ít hoặc nhiều. XQ thấy có bóng răng tròn, rõ quanh một thân răng ngầm ở phía trên. Đôi khi rất khó phân biệt hình ảnh nang hay chỉ là một bọc quanh thân răng hay giãn ra.
Giai đoạn sau:
Khi nang đã to biểu hiện bằng một khối u cứng làm phồng ngách lợi hoặc cả rãnh müi – má nhưng vẫn không đau. Da niêm mạc bình thường, nếu vị trí nang phía hàm ếch cüng bị phồng. U dính chắc vào xương kích thước không lớn lắm, có thể bằng ngón tay hoặc bằng quả quýt.
Khi nang tiếp tục to làm cho xương hàm bị đẩy và mỏng đi, khi đó sờ ở ngách lợi có dấu hiệu bóng bàn hoặc như sờ vào dịch nước (khi đã phá huỷ toàn bộ xương). XQ có hình nang và răng ngầm thân quay vào trong lòng nang.
Nếu không phát hiện và điều trị kịp thời, nang dễ gây biến chứng bội nhiễm và nhiễm trùng sau đó gây rò. Tùy vị trí nang mà có biểu hiện lâm sàng ở vị trí đó, đường rò có thể vào nghách lợi, hàm ếch hoặc ra ngoài da.
Ngoài thể lâm sàng điển hình như trên ta còn có thể gặp các thể khác:
– Nang trên thân răng sữa làm răng mọc chậm đi. Thường là trên một răng sữa bất kỳ và chỉ có một nang. Tuy nhiên cüng có thể nhiều nang ở một bệnh nhân. Nang chùm lên thân răng sữa, răng sữa này nhỏ như hạt đậu, màu xanh tím.
– Nang trên thân răng vĩnh viễn. Hay gặp ở trẻ em trên các răng số 6,7.
– Nang quanh răng vĩnh viễn sau khi răng sữa ở trên bị nhiễm trùng.
– Ngoài ra có thể gặp ở các răng khác nhưng ít hơn như:
– Nang răng nanh hàm dưới.
– Nang răng khôn hàm dưới: Trong đó răng khôn ở khá cao gần mỏm vẹt hay lồi cầu. Có khi có nhiều ổ nang làm XQ có thể nhầm với u men.
– Nang răng khôn hàm trên.
– Nang các răng thường.
4.2.2. Điều trị:
– Duy nhất bằng phẫu thuật.
– Dù ở giai đoạn thầm lặng hay đã rõ, khi lâm sàng và XQ đã cho chẩn đoán xác định thì phương pháp phẫu thuật nên được thực hiện ngay.
– Trong kỹ thuật phẫu thuật phải lấy bỏ toàn bộ màng nang và răng trong nang. Sau đó hoặc khâu kín hoặc dẫn lưu, hoặc lấp đầy bằng nhựa tự cứng hay xương đông khô đồng lợi tùy cơ sở điều trị.
4.3. U men đặc tạo răng:
U men đặc tạo răng hiếm gặp so với u men thể nang, có khuynh hướng liên kết phát triển có giới hạn, sau phẫu thuật ít hoặc không tái phát.
4.3.1. Triệu chứng:
Thường gặp ở tuổi thiếu niên lúc mọc răng vĩnh viễn. Rất ít hoặc không gặp
ở tuổi lúc mọc răng sữa hay người quá 20 tuổi.
Nam và nữ gặp tương đương nhau. Vị trí u gặp cả hai hàm trên và dưới. U tiến triển thầm lặng, ít có triệu chứng và không ảnh hưởng toàn thân giai đoạn đầu. Xương hàm phồng ít, hơi gồ ghề ở ngách tiền đình – lợi, nhẵn, niêm mạc phủ bình thường.
Trên cung răng thường thầy tồn tại răng sữa, hoặc nhiều răng hoặc các răng mọc sai vị trí, cüng có khi răng vĩnh viễn biến dạng. U men đặc tạo răng thường khác với u men thể nang là u thường tiến ra cả hai lớp trong và ngoài của xương hàm. Thường bệnh nhân đến khám bệnh chỉ thấy người hơi khó chịu, ngách lợi vị trí u hơi gồ, đau ít. Đôi khi tình cờ khám trong khoang miệng và XQ mà phát hiện ra.
XQ xác định có khối u men đặc tạo có giới hạn rõ, trong đó có những hình tròn hoặc nhiều cạnh mà mật độ giống răng. Có khi ở xung quanh khối u thấy hình một hay nhiều răng sai chỗ. Không được điều trị, u lớn hoặc gây bội nhiễm có mủ gây rò.
4.3.2. Điều trị
– Duy nhất bằng phẫu thuật.
– Lấy bỏ toàn bộ u trong đó có các răng nhỏ.
– Sau phẫu thuật thường không hoặc ít tái phát.
5. Phòng bệnh
– Kiểm soát chế độ ăn uống và vệ sinh răng miệng tốt là điều kiện tốt giảm nguy cơ mắc các bệnh răng miệng thường gặp ở người lớn tuổi.
– Chế độ ăn uống căn bằng hợp lí, không nên sử dụng quá nhiều thức ăn chế biến sẵn, các thức ăn giàu bột đường và dễ lên men.
– Vệ sinh răng miệng: Loại trừ mảng bám răng được xem là phương pháp hiệu quả trong dự phòng. Một số người lớn tuổi giảm khả năng hoạt động và sự khéo léo nên giảm hiệu quả kiểm soát mảng bám. Hơn nữa, do tụt nướu lộ mặt chân răng với nhiều hình thể phức tạp: lõm, rãng, khe, đặc biệt vùng chia chân răng rất khó chải rửa. Đây là đối tượng có khó khăn trong việc giữ gìn vệ sinh răng miệng. Do vậy cần khám răng định kì để bác sĩ lấy sạch vôi răng, mảng bám vi khuẩn. Đồng thời cần phải sử dụng thêm các dụng cụ hỗ trợ như: bàn chải tự động hay máy rửa răng.
Kiểm soát các bệnh về răng miệng:
Bệnh sâu răng, bệnh nha chu, chăm sóc sự mòn răng, nhổ răng và phẫu thuật miệng, phục hình răng… Chú ý tới màu sắc của răng, nếu thấy răng đổi màu phải đi nha sĩ ngay. Biện pháp phòng bệnh tốt nhất là khám răng định kỳ, 6 tháng hoặc 1 năm/lần nhằm phát hiện bệnh sớm và có hướng điều trị, tránh biến chứng xảy ra.
Đặt lịch phẫu thuật nhanh – chọn bác sĩ theo yêu cầu
👉 Hỗ trợ tại Lạc Việt & kết nối bác sĩ từ Bạch Mai, Việt Đức, 108, Đại học Y, Nội tiết TW, BV K
Chuyên khoa Tai – Mũi – Họng
ThS.BS Nội trú Đặng Thị Hồng Ánh là bác sĩ trẻ, chuyên môn vững vàng trong lĩnh vực Tai – Mũi – Họng, hiện đang công tác tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương – một trong những đơn vị đầu ngành về chuyên khoa này tại Việt Nam.
Bác sĩ có kinh nghiệm thực tế trong khám và xử trí các bệnh lý cấp cứu Tai – Mũi – Họng, đồng thời đang tham gia khám và điều trị tại các cơ sở y tế uy tín.
Chuyên gia Nội tổng hợp – Hô hấp – Tim mạch
PGS.TS.BS Trần Hoàng Thành là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Hô hấp, Tim mạch và Nội tổng hợp, với hơn 45 năm kinh nghiệm trong khám và điều trị bệnh lý nội khoa.
Bác sĩ từng công tác tại các đơn vị đầu ngành như Trung tâm Hô hấp và Khoa Tim mạch – Bệnh viện Bạch Mai, đồng thời là Giảng viên cao cấp tại Đại học Y Hà Nội. Đây đều là những môi trường chuyên sâu, giúp bác sĩ có nền tảng chuyên môn vững vàng và kinh nghiệm lâm sàng phong phú.
Chuyên gia Nội thần kinh đầu ngành | Hơn 35 năm kinh nghiệm
Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ cao cấp Lê Văn Thính là một trong những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Nội thần kinh tại Việt Nam, với hơn 35 năm kinh nghiệm khám, điều trị và nghiên cứu chuyên sâu các bệnh lý thần kinh.
Hiện bác sĩ đang tham gia khám và điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Lạc Việt.
Thầy thuốc ưu tú | Chuyên gia Nội thận – Hồi sức cấp cứu | Hơn 35 năm kinh nghiệm
Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc ưu tú Bùi Văn Mạnh là chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực Nội thận – Lọc máu – Hồi sức cấp cứu – Ghép tạng, với hơn 35 năm kinh nghiệm điều trị, nghiên cứu và giảng dạy.
Chuyên gia Ung bướu – Ung thư Vú | Hơn 35 năm kinh nghiệm
Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Văn Định là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Ung bướu, đặc biệt chuyên sâu về Ung thư Vú, với hơn 35 năm kinh nghiệm khám, điều trị và phẫu thuật.
Chuyên gia đầu ngành Nội tiết – gần 40 năm kinh nghiệm
TS.BSCC Ngô Thị Phương là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Nội tiết – chuyển hóa, với gần 40 năm kinh nghiệm trong khám và điều trị các bệnh lý nội khoa phức tạp.
Bác sĩ từng giữ chức vụ Chủ nhiệm Khoa Nội tiết – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, đồng thời tham gia nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học chuyên sâu, đóng góp lớn cho ngành Nội tiết tại Việt Nam.
Hiện nay, bác sĩ đang tham gia khám và điều trị tại Bệnh viện Quốc tế Thăng Long Lạc Việt.