Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
1. Khái niệm
Cận thị là một tật khúc xạ ở mắt. Người bị cận thị có thể nhìn bình thường đối với những mục tiêu ở cự ly gần, nhưng không nhìn rõ đối với những mục tiêu ở cự ly xa nếu mắt không điều tiết. Thường khi nhìn xa trên 5 mét thì mắt nhìn mờ, và không thấy rõ chữ trên bảng. Nguyên nhân của cận thị là do giác mạc vồng quá hoặc do trục trước – sau của cầu mắt dài quá khiến cho hình ảnh không hội tụ đúng võng mạc như mắt bình thường mà lại hội tụ ở phía trước võng mạc.
2. Các dấu hiệu bị cận thị
– Nhìn vật gì cũng phải đưa sát vào mắt mới nhìn rõ: cúi sát mắt vào sách vở, đứng sát vào khi xem ti vi.
– Hay nheo mắt để nhìn mọi vật, đặc biệt khi ánh sáng yếu. Hoặc có những động tác bất thường liên tục như dụi mắt, nheo mắt, nghiêng đầu khi nhìn
– Trẻ kêu mắt nhìn mờ hoặc nhức mắt
– Kết quả học tập sút kém, không thích các hoạt động nhìn xa như đá bong, đá cầu mà thích thú hơn với việc đọc truyện, xem phim, chơi game…
– Trẻ bị cận thị nặng có thể bị lác mắt kèm theo.
3. Nguyên nhân
Hai nguyên nhân chính gây bệnh cận thị là do bẩm sinh và mắc phải:
– Bệnh bẩm sinh do yếu tố di truyền, cha mẹ cận thị thì con cũng bị cận thị. Loại này có đặc điểm là độ cận cao, có thể trên 20 đi ốp, độ cận tăng nhanh cả khi đã ở tuổi trưởng thành, có nhiều biến chứng như: thoái hóa hắc võng mạc, xuất huyết hoàng điểm, bong hoặc xuất huyết thể pha lê, rách hay bong võng mạc…, khả năng phục hồi thị lực của bệnh nhân kém dù được điều trị.
– Bệnh cận thị mắc phải thường gặp ở lứa tuổi học sinh, do các em học tập, làm việc, nhìn gần nhiều trong điều kiện thiếu ánh sáng, mắt không được nghỉ ngơi hợp lý. Đặc điểm là mức độ cận nhẹ hay trung bình dưới 6 đi ốp, bệnh tiến triển chậm, ít tăng độ, độ cận thường ổn định đến tuổi trưởng thành, ít bị biến chứng.
4. Phân loại
a. Cận thị nhẹ
Dưới 6 diôp: đáy mắt không có tổn thương ở mạch võng mạc. Độ cận tăng dần từ tuổi học đường đến trưởng thành, tuổi thành niên rồi cố định. Đeo kính phân kỳ thì thị lực trở lại bình thường. Nếu cận thị nhẹ diễn biến bình thường nơi người có sức khỏe bình thường, độ cận sẽ không thay đổi cho đến lúc lớn tuổi, lúc nào lão thị sẽ làm giảm số Diôp, khi đọc sách có thể hạ số kính hoặc bỏ kính.
b. Cận thị nặng (Cận thị bệnh):
– Trên 7 Diôp, dù đeo kính thị lực vẫn không đạt được mức bình thường, mắt trông lớn có vẻ như hơi lồi, đáy mắt có nhiều suy biến nơi mạch mạc và võng mạc.
– Nhược thị là tình trạng mắt không đưa được những thông tin rõ nét về hình ảnh của sự vật lên não, trung tâm thị giác tại não sẽ lười hoạt động và từ từ dẫn đến giảm khả năng phân tích của não dẫn đến giảm sút thị lực mặc dù không có tổn thương thực thể nào tại mắt.
5. Điều trị
– Đeo kính là cách thông dụng, rẻ tiền, dễ áp dụng. Tuỳ theo mức độ cận thị, bệnh nhân cần đeo kính thường xuyên hay chỉ cần đeo kính khi nhìn xa. Nếu bệnh nhân cận thị được chỉnh kính đúng thì tiến triển cận thị sẽ chậm lại, không bị tăng độ. Tuy nhiên khi đeo kính, góc nhìn bị thu hẹp, hình ảnh bị thu nhỏ và gây vướng víu cho bệnh nhân.
– Sử dụng kính sát tròng thì bệnh nhân phải giữ gìn vệ sinh tốt, đeo kính vào sáng sớm và tháo ra buổi tối trước khi ngủ. Không được đeo kính sát tròng khi xuống nước như khi đi tắm biển. Bệnh nhân đeo kính sát tròng cần được kiểm tra giác mạc 3 tháng một lần, phải ngưng sử dụng kính nếu có bất thường trên giác mạc hoặc có phản ứng của mắt với kín
– Đối với bệnh nhân trên 18 tuổi có thể điều trị bằng phương pháp mổ laser. Phẫu thuật này khá phổ biến, chính xác và có hiệu quả cao nhất trong phẫu thuật khúc xạ hiện nay, nhất là dùng excimer laser. Ưu điểm là không đau, thời gian phẫu thuật ngắn dưới 10 phút, độ chính xác cao, hơn 90% bệnh nhân trở về dưới 0,5 đi ốp, phục hồi thị lực nhanh, bệnh nhân nhìn rõ sau mổ 12-24 giờ. Tuy nhiên có thể có những biến chứng trong khi phẫu thuật như rách vạt, đứt vạt giác mạc với tỷ lệ rất thấp dưới 1%, hoặc biến chứng nhiễm khuẩn sau phẫu thuật.
– Phương pháp đặt thủy tinh thể nhân tạo trong mắt được sử dụng khi bị cận nặng, có kèm bệnh đục thủy tinh thể.
– Dùng vật lý trị liệu như luyện tập điều tiết trên máy, dùng sóng siêu âm, điện, điện tử, laser năng lượng thấp có tác dụng làm phục hồi chức năng điều tiết mắt, tăng cường tuần hoàn cơ thể mi, võng mạc, tăng cường trương lực cơ.
– Với những người bị cận thị nên đi kiểm tra đo mắt định kỳ 6 tháng/lần.
6. Phòng bệnh
– Đeo kính phân kỳ thích hợp với độ Diôp của mắt.
– Không xem sách ở nơi thiếu ánh sáng.
– Không bắt mắt làm việc quá lâu.
– Hai người nam nữ đều cận thị nặng (quá 9 Diôp trở lên) không nên lập gia đình với nhau để tránh ảnh hưởng di truyền cho con cháu.
– Trong lớp nên xếp trẻ cận thị ngồi gần bảng. Không nên học tập, làm việc bằng mắt liên tục và kéo dài nhiều giờ. Nên cho mắt nghỉ ngơi từ 5 đến 10 phút bằng cách nhắm mắt lại hoặc thư giãn bằng cách nhìn ra xa sau mỗi giờ học. Không nên đọc sách trong bóng tối hoặc ngồi trước máy vi tính quá nhiều sẽ gây mỏi mắt. Hạn chế và giảm những triệu chứng mỏi mệt điều tiết do cận thị gây ra, cần làm việc ở khoảng cách thích hợp, từ mắt đến sách khoảng 30 – 40 cm.
– Theo các chuyên gia Nhật Bản: người cận thị ăn nhiều chất ngọt có thể làm cho bệnh phát triển thêm do thành phần đường quá nhiều sẽ làm giảm lượng sinh tố B1 thậm chí làm sụt hàm lượng Canxi trong cơ thể khiến cho khả năng đàn hồi của mắt kém đi, dẫn đến giảm thị lực.
7. Bài tập để giảm bớt và phòng ngừa cận thị
– Ngồi ở ghế nheo 2 mắt lại khoảng 3 – 5 giây, mở ra 3 – 5 giây. Tập 6 – 8 lần.
– Chớp mắt nhanh thật nhanh trong suốt 1 – 2 phút.
– Đứng lên nhìn về phía trước mắt 2 – 3 phút. Nâng ngón tay trỏ bên phải lên cách mắt khoảng 20 – 25cm, nhìn vào đầu ngón tay 5 phút, hạ xuống. Tập 10 lần.
– Giơ tay về phía trước nhìn đầu ngón tay, đưa ngón tay từ từ vào gần mắt cho đến khi thấy nhòa thành 2. Lập lại 8 lần.
– Ngồi xuống che mi mắt lại, xoa bóp quanh hốc mắt trong 1 phút.
– Đứng lên nâng bàn tay phải lên cách mắt 25 – 30cm duỗi một ngón tay và nhìn nó bằng 2 mắt 3 – 5 giây. Dùng tay trái che mắt trái nhìn bằng mắt phải 3 – 5 giây rồi đổi sang mắt phải. Tập 6 lần mỗi bên 3 lần. \
8. Chế độ dinh dưỡng
– Thức ăn chứa nhiều vitamin A: Cơ thể thiếu vitamin A sẽ sinh ra chứng “quáng gà”, có khi nặng đến mức không nhìn rõ được khi trời mờ tối, đèn mờ, thiếu ánh sáng… Điều này sẽ làm cho những tế bào mô tuyến lệ bị tổn hại, dẫn đến bệnh khô mắt. Thức ăn chứa nhiều vitamin A có nhiều trong gan động vật, sữa bò, sữa cừu, sữa dê, lòng đỏ trứng gà, dầu gan cá…
– Thực phẩm chứa nhiều caroten: Caroten có trong các loại rau cải xanh, cải trắng, rau chân vịt (rau sam), cải dầu, đậu xanh, bí đỏ, cà chua, cà rốt, táo, khoai lang, bí, đu đủ, đặc biệt là gấc… Sau khi ăn, cơ thể hấp thu caroten rồi chuyển hóa thành vitamin A.
– Thức ăn chứa nhiều vitamin B1 và Riaxin (Niacin): Nếu cơ thể thiếu vitamin B1 sẽ gây ra viêm dây thần kinh, đặc biệt là dây thần kinh thị giác, gây sung huyết dây thần kinh thị giác, xuất huyết thị võng mạc, làm giảm thị lực nhanh chóng… Thiếu Niaxin sẽ gây ra rung giật nhãn cầu làm yếu thị giác… Thức ăn chứa nhiều vitamin B1 và Niaxin là các loại đậu, thịt nạc, lạc, gạo lứt (tức gạo bóc vỏ trấu không giã). Các loại rau lá xanh, đậu xanh, táo, ngô…
– Thực phẩm chứa nhiều vitamin B2: Vitamin B2 đảm bảo cho thị võng mạc và giác mạc chuyển hóa được bình thường. Việc thiếu vitamin B2 sẽ xuất hiện các triệu chứng chảy nước mắt, mắt đỏ, ngứa, viêm bờ mi, viêm giác mạc, đục thủy tinh thể (nhân mắt)… Vitamin B2 có nhiều trong nội tạng động vật như cừu, thịt nạc, sữa bò, trứng các loại, các loại đậu và rau lá xanh…
– Thức ăn chứa nhiều crom: Khi cơ thể thiếu crom, sẽ có mối liên quan đến sự hình thành chứng cận thị, vì thiếu crom sẽ kích thích làm nhân mắt lồi ra, dễ gây tăng độ cận thị. Nguồn thức ăn chủ yếu có chứa crom là men bia, rượu, gan động vật, thịt bò, bột mì thô, gạo lứt, đường đỏ, nước nho, nấm các loại…
– Thức ăn chứa nhiều kẽm: Trong võng mạc mắt của người có chứa hàm lượng kẽm cao nhất, ngay cả ở mi mắt, hàm lượng kẽm cũng tương đối nhiều. Vì vậy, khi thiếu kẽm sẽ ảnh hưởng đến thị lực. Các thức ăn chứa nhiều kẽm hơn cả là sò biển, cá trích, gan, trứng…
– Thực phẩm chứa nhiều canxi: Canxi có liên quan tới nhãn cầu, nếu thiếu canxi dễ dẫn đến sụt giảm khả năng đàn hồi của củng mạc, làm cho nhãn cầu bị giãn và phát triển thành cận thị. Những thức ăn chứa nhiều canxi có trong tôm, cua, moi biển, rau câu, tương, vừng, đậu tương, bơ, lòng đỏ trứng và các loại cá…
– Thực phẩm chứa nhiều selen: Selen có liên quan đến độ nhanh nhạy của thị lực con người. Qua nghiên cứu, người ta nhận thấy, nếu mỗi ngày đưa vào cơ thể một lượng selen nhất định từ ăn uống, sẽ làm giảm sự phát sinh cận thị và cả các bệnh về mắt khác. Những thực phẩm chứa nhiều selen bao gồm cá, tôm, các loại sò, hến, các món ăn bằng bột mì, gạo lứt, đậu tương, vừng, ớt, tỏi, hành tây, nấm các loại, rau mã thầy, cà rốt…
– Bổ sung các thức ăn có chứa nhiều phốt pho: Phốt pho đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì độ dẻo dai của củng mạc. Do vậy ăn thức ăn chứa nhiều phôt pho là rất cần thiết cho mắt. Những thức ăn có chứa nhiều phốtpho gồm cá, tôm, sò biển, sữa, táo đỏ, rau câu…
– Các loại thức ăn kiềm tính: Nhiều nghiên cứu cho thấy, khi ăn nhiều thức ăn có tính acid thì bệnh cận thị dễ xảy ra. Do vậy các nhà khoa học về dinh dưỡng khuyên nên ăn nhiều thức ăn kiềm tính để duy trì sự cân bằng giữa bazơ và acid. Thức ăn kiềm tính có trong rau xanh, hoa quả, đậu các loại.
9. Câu hỏi liên quan
Câu 1: Có nên đắp lá để chữa cận thị không?
Gần đây, nhiều “thầy lang” với chiêu bài chữa cận thị bằng cách đắp lá lên mắt, đã thu hút được không ít bệnh nhân. Tuy nhiên, người bị cận thị chữa bằng phương pháp này không những không khỏi mà còn có khả năng hỏng mắt nếu bị sán trong lá chui vào hố mắt, nhiễm trùng do các lá đắp không được tiệt trùng.
Hiện tại, chưa có tài liệu y học nào nói về việc chữa cận thị bằng phương pháp đắp lá. Vì vậy, người bệnh nên tìm đến các cơ sở y tế để được điều trị một cách an toàn.
Câu 2: Giá chữa cận thị bằng Laser ( tham khảo )
Hiện nay giá chữa cận thị bằng Laser dao động từ 14-26tr/2 mắt tùy tình từng trường hợp cụ thể và từng bệnh viện
Câu hỏi 3: Người cận thị nặng có nên tập võ không?
Tôi còn trẻ, cận thị 5,25 đi ốp. Nếu đi mổ thì có an toàn không, mắt có đỡ lồi không? Tôi đang tập thể dục (chạy buổi sáng, thể dụng dụng cụ) và muốn tập cả võ nữa. Liệu có hại gì cho mắt không?
Trả lời:
– Các trường hợp cận 6 đi ốp trở lại và ở tuổi hết lớn (trên 18 tuổi) là có chỉ định mổ. Mổ cận không nguy hiểm và cũng không làm giảm mỹ quan. Sau mổ, độ lồi mắt có thể giảm bớt vì nguyên lý của phẫu thuật điều trị cận thị là làm cho giác mạc dẹt bớt đi, đỡ lồi nhọn nhằm giảm công suất quy tụ ánh sáng quá mức.
– Người cận nặng có thể tập thể dục (thể dục dụng cụ hoặc chạy bộ). Song với thể thao thì phải thận trọng nhiều; bởi vì ở người cận, vỏ nhãn cầu giãn rộng, các va đập nhỏ vào mắt có thể gây bong võng mạc. Các tình huống sau đều có thể gây nguy hiểm: bị luồng nước đập vào mắt mạnh khi bơi lội hoặc khi nhảy lao đầu xuống nước; bị cầu thủ khác huých khuỷu tay hoặc bóng đập vào vùng mặt; bạn phát bóng quá mạnh làm người rung chuyển, chuyện động lan đến mắt.
– Nếu tập võ, bạn sẽ khó tránh được các va chạm và có thể bị bong võng mạc.Bởi vậy, bạn chỉ nên đi sâu vào thể dục thôi. Còn thể thao và võ thì nên tránh.
Câu 4: Nên có thai sau mổ cận thị bao lâu?
Năm nay em muốn có em bé vừa muốn mổ cận thị. Vậy nếu em mổ mắt cận thị thì sau bao lâu em mới có thể mang thai?
Trả lời:
Thật ra phẫu thuật cận thị bằng phương pháp Lasik không hề có chống chỉ định gì trên người thai nghén. Phẫu thuật rất nhẹ nhàng, nhanh gọn. Tia Laser Excimer chỉ tác động trên mắt vài chục giây và tia này không hề nguy hiểm cho thai nhi.
Tuy nhiên, theo tôi bạn nên chọn điều gì quan trọng hơn thì ưu tiên làm trước. Tội vạ gì mà thực hiện hai việc này cùng một lúc, vì đôi khi có những chuyện xảy ra mà ta khó lường trước được.
Câu 5: Cận bao nhiêu độ thì đi mổ mắt ?
Trả lời:
– Cận trên 2 độ thì có thể mổ mắt được rồi nhưng mổ mắt là ở độ tuổi 18 trở lên. Người bệnh cần được khám sàng lọc kỹ để loại trừ một số bệnh, yếu tố chống chỉ định, cũng như một số nguy cơ gây biến chứng.
– Không phải ai bị cận thị cũng có thể mổ được đặc biệt là những người đang có các bệnh cấp hoặc mạn tính tại mắt như: Viêm kết mạc, viêm giác mạc, viêm màng bồ đào, glôcôm, giác mạc hình nón…
– Bên cạnh đó, người có các bệnh lý toàn thân như đái tháo đường, bệnh ác tính, phụ nữ đang có thai hoặc trong thời kỳ cho con bú cũng không được mổ mắt.
– Cần đến khám thật kỷ để được sự tư vấn của bác sĩ trước khi quyết định mỗ hay không nhé.
Câu 6: Cháu bắt đầu đeo kính cách đây 5 năm, lúc đó cháu đo kết quả là 1.25 độ, họ cắt kính cho cháu 1 độ. Bình thường khi đi học trên lớp, hay đi đường, xem phim cháu mới đeo kính. BS cho cháu hỏi việc đó có ảnh hưởng tới thị lực của mắt không ạ?
Hôm nay cháu đi kiểm tra và đo mắt để cắt kính mới ở BV Mắt Sài Gòn- Hà Nội, với kết quả mắt phải và trái (Cầu – 0.75). Trước giờ cháu đeo kính 1 độ cháu thấy vẫn bình thường, BS cho cháu hỏi cháu có nên cắt kính mới với số đo ở BV Mắt Sài Gòn- Hà Nội không ạ?
Trả lời:
Việc đeo kính là rất tốt, giúp cho bạn nhìn rõ hơn mọi sự vật hiện tượng xung quanh. Khi đã nhìn rõ thì bạn sẽ phân tích kỹ hơn những gì bạn tiếp thu dẫn đến tổng hợp vấn đề tốt hơn và từ đó giúp cho bạn phát triển tư duy mạnh mẽ hơn.
Việc đeo kính không hề ảnh hưởng đến thị lực mà còn giúp bạn nhìn rõ hơn mà. Bạn cứ tưởng tượng việc đeo kính ở người cận thị giống như việc mang giày cao gót ở người lùn. Bạn muốn trông cao hơn chút đỉnh thì mang giày cao gót và dĩ nhiên khi bỏ giày ra thì người lại thấp lùn như cũ. Việc mang giày không hề ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao của một người. Việc mang kính cũng giống y như vậy. Kính chỉ giúp nhìn rõ hơn và khi bỏ kính ra thì nhìn mờ không hề ảnh hưởng đến một trong những chức năng thị giác là thị lực.
Theo nguyên tắc là ta lấy số độ nhỏ nhất mà cho thị lực tối đa ở người cận thị. Như vậy nếu – 0.75 độ mà cho thị lực tốt bằng -1.00 thì dĩ nhiên là đeo kính – 0.75. Nhưng nếu -0.75 độ mà cho thị lực không rõ bằng -1.00 độ thì dĩ nhiên là đeo kính -1.00 độ.
Câu 7: Cận bao nhiêu độ thì đi mổ mắt ?
Trả lời:
– Cận trên 2 độ thì có thể mổ mắt được rồi nhưng mổ mắt là ở độ tuổi 18 trở lên. Người bệnh cần được khám sàng lọc kỹ để loại trừ một số bệnh, yếu tố chống chỉ định, cũng như một số nguy cơ gây biến chứng.
– Không phải ai bị cận thị cũng có thể mổ được đặc biệt là những người đang có các bệnh cấp hoặc mạn tính tại mắt như: Viêm kết mạc, viêm giác mạc, viêm màng bồ đào, glôcôm, giác mạc hình nón…
– Bên cạnh đó, người có các bệnh lý toàn thân như đái tháo đường, bệnh ác tính, phụ nữ đang có thai hoặc trong thời kỳ cho con bú cũng không được mổ mắt.
– Cần đến khám thật kỷ để được sự tư vấn của bác sĩ trước khi quyết định mỗ hay không nhé.
Câu 8: Cận thị nặng nhất là bao nhiêu độ ?
Trả lời :
Trên lý thuyết thì không có giới hạn độ cận thị. Bạn muốn tính độ bằng thủ công của từng mắt thì làm như sau:
– Giả sử muốn tính độ cận mắt trái, nhắm mắt phải lại rồi đưa từ từ một vật ra xa mắt. Đến một ngưỡng mà từ đó còn có thể phân biệt được các chi tiết trên vật (nhích ra xa thì không phân biệt được nữa) thì dừng lại. Đo khoảng cách từ mắt đến vật đó rồi đổi ra mét (ví dụ như 20 cm = 0.2 m). Sau đó lấy nghịch đảo sẽ ra độ (vẫn ví dụ trên: 1/0.2 = 5 độ ) Như vậy, bạn sẽ thấy là không có giới hạn cho cận thị.
– Trên thực tế vẫn gặp những người cận 20-25 độ ,tuy nhiên họ có các chứng bệnh khác về mắt nên độ cận mới cao như vậy. Còn cận trên nữa thì tôi chưa gặp. Nhưng cận quá 50 độ thì coi như mù (vì khoảng nhìn rõ lúc này chỉ còn 2 cm)
Câu 9: Câu hỏi: Áo chống cận thị?
Trả lời:
– Cận thị có rất nhiều nguyên nhân nên áo chống cận thị có tác dụng thì cũng chỉ là phụ trợ, chống được một dạng nguyên nhân là do đọc viết quá gần chứ không chống được tất cả nguyên nhân gây bệnh. Bởi vậy, quan trọng nhất vẫn là ý thức của các em và việc quan tâm của các bậc phụ huynh đến môi trường học tập của con em mình.
– Vì vậy, chuyện mỗi ngày mặc áo đó 1-2 tiếng mà chống được cận thị thì rất khó tin. Ngoài ra, những chiếc áo trên còn buộc trẻ vào một tư thế ngồi học cứng nhắc nên chưa chắc tốt cho xương sống. Chiếc áo còn khiến trẻ thấy bị bó buộc nên có thể dẫn đến việc không hứng thú, kém tập trung.
– Với những sản phẩm chống cận thị, chống vẹo cột sống này cần phải có chuyên gia về cơ xương khớp đánh giá xem nó có ảnh hưởng đến sự phát triển của xương khớp hay không và phải có chuyên gia về mắt đánh giá hiệu quả của sản phẩm xem nó có chống được cận thị không thì mới có thể tin tưởng dùng.
Câu 10: Uống thuốc và bấm huyệt chữa được cận thị?
Trả lời:
Cần phải xác định rõ cận thị giả (co quắp điều tiết) cận thị thực sự.
Co quắp điều tiết xảy ra khi mắt nhìn gần trong thời gian dài, cường độ làm việc cao. Mắt mỏi nhức và khi đo khúc xạ thấy độ cận thị khá cao không tương xứng với mức thị lực. Khi tra thuốc liệt điều tiết, đo khúc xạ khách quan sẽ thấy không còn cận thị nữa. Cơ sở không phải chuyên khoa mắt sẽ cấp kính cho bệnh nhân, tất nhiên số kính này không chính xác. Co quắp điều tiết được điều trị bằng nghỉ ngơi thư giãn mắt, uống thuốc bổ mắt, xoa bóp bấm huyệt cũng có tác dụng thư giãn mắt khá tốt. Sau đó mắt sẽ dần điều chỉnh được.
Cận thị thực sự khi tra thuốc liệt điều tiết, vẫn còn tồn tại cận thị khi đo khúc xạ khách quan. Việc này chỉ thực hiện được ở cơ sở chuyên khoa mắt. Khi đã cận thị thực sự, chỉ có đeo kính mới làm tăng thị lực. Các phương pháp châm cứu bấm huyệt, uống thuốc bổ mắt chỉ là phụ trợ làm tăng khả năng chịu đựng của mắt, hoặc làm giảm quá trình tăng số kính chứ không làm giảm độ cận thị được.
Câu 11: Đi khám bác sĩ đo 1 mắt là 1/10, 1 mắt là 5/10 thì tương đương cận bao nhiêu độ?
Trả lời:
Cận thị biểu hiện chủ yếu bằng thị lực giảm khi nhìn xa, còn nhìn gần vẫn bình thường. Cận thị đơn thuần với mỗi mức độ cận thị sẽ tương ứng với một khoảng thị lực ví dụ như:
– Nếu độ cận thị 0.5Diop có thị lực 6-7/10, độ cận thị 1Diop có thị lực 4- 5/10,
– Độ cận thị 1.5Diop đến 2Diop có thị lực khoảng 1/10,
– Độ cận thị >2D có thị lực duới 1/10.
Khi mắc cận thị cháu nên đi khám, kiểm tra thị lực ở cơ sở y tế chuyên khoa uy tín và cắt kính theo đúng độ cận.
Nguyên Cố vấn cao cấp Trung tâm Ung bướu – Tế bào gốc, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Huyết học – Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa
Nguyên là Phó Trưởng khoa Tai – Tai Thần kinh – Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương.
Hiện nay Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa có lịch thăm khám và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa An Việt
Bác sĩ Chuyên khoa Ung bướu – Nội tiết
Chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tuyến giáp ở Việt Nam
Chủ tịch CLB người bệnh ung thư tuyến giáp và các bệnh lý tuyến giáp
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 500.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 250.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 300.000đ |