Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
1. Khái niệm:
Tư duy là một quá trình hoạt động tâm thần phức tạp, là hình thức cao nhất của quá trình nhận thức, có đặc tính phản ảnh thực tại khách quan một cách gián tiếp và khái quát, từ đó ta có thể nắm được bản chất và quy luật phát triển của sự vật và hiện tượng.
Một tư duy được gọi là bình thường khi nó phù hợp với thực tế khách quan và phù hợp với những chuẩn mực được đại đa số mọi người trong cộng đồng thừa nhận .
Tư duy được biểu lộ ra ngoài bằng lời nói và chữ viết .
2. Nguyên nhân:
– Chấn thương sọ não.
– Nhiễm khuẩn thần kinh (Viêm não, giang mai thần kinh, …)
– Nhiễm độc thần kinh (Nghiện các chất, nhiễm độc nghề nghiệp…).
– Các bệnh mạch máu não.
– Các tổn thương não khác (U não, teo não, xơ rải rác, …)
– Các bệnh cơ thể ảnh hưởng đến hoạt động của não.
– Các rối loạn tâm căn.
– Các rối loạn liên quan đến stress.
– Các rối loạn dạng cơ thể.
– Chậm phát triển tâm thần.
– Nhân cách bệnh.
3. Các rối loạn tư duy và biểu hiện:
a. Rối loạn ngôn ngữ:
Ngôn ngữ là biểu hiện của tư duy, về cả nội dung lẫn hình thức. Hình thức tư duy là cách thức bệnh nhân liên kết các ý tưởng với nhau, cách liên tưởng của các ý tưởng, tất cả tạo ra hình thức tư duy của con người. Nội dung tư duy là chủ đề bệnh nhân suy nghĩ như nội dung của các ý tưởng, niềm tin, mối bận tâm …tuy nhiên sự phân biệt giữa hình thức và nội dung của tư duy thực ra chỉ có tính quy ước vì hai mặt nầy luôn có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nội dung tư duy quyết định ngôn ngữ và ngoài ra nó còn liên quan đến các hoạt động tâm thần khác như trí nhớ, trí tuệ, ý thức, cảm xúc …
b. Rối loạn nhịp độ ngôn ngữ:
Nói nhanh:
Nhịp tư duy nhanh, các ý tưởng xuất hiện kế tiếp nhau không ngừng vì thế làm bệnh nhân nói nhanh và có khi hỗn độn. Có những hình thức rối loạn ngôn ngữ nhịp nhanh như sau:
– Tư duy phi tán: Bệnh nhân liên tưởng mau lẹ từ việc này sang việc khác, chủ đề luôn thay đổi, làm dòng tư duy mất mạch lạc, gặp trong hội chứng hưng cảm .
– Tư duy dồn dập: Bao gồm những ý tưởng xuất hiện dồn dập trong đầu làm bệnh nhân không cưỡng lại được, các ý tưởng hoặc các hình ảnh nầy lướt nhanh trong óc làm bệnh nhân không thể tập trung chú ý đến một ý tưởng hoặc một hình ảnh riêng lẻ được, do đó bệnh nhân rất lo sợ vì thấy mình mất tự chủ, hiện tượng nầy thường thấy ở những người mệt mỏi, làm việc quá sức, lo âu, có khi do cà phê hoặc thuốc lá gây ra
– Nói hổ lốn: Là nói liên tục, nhanh và không cưỡng lại được, có thể về một hoặc nhiều chủ đề khác nhau, tùy theo cấu trúc, nội dung và sự liên tục mà ta phân biệt nói hổ lốn do hưng cảm, do tâm thần phân liệt, do sa sút trí tuệ hoặc do tổn thương thực thể.
Nói chậm:
Nhịp tư duy bị chậm lại, quá trình liên tưởng khó khăn, ý tưởng đơn điệu, thường gặp trong các trạng thái ức chế như do trầm cảm, ngoài ra còn gặp trong tâm thần phân liệt, lú lẫn, do các bệnh thực thể. Bệnh nhân trả lời câu hỏi một cách khó khăn, do dự, tạo ra một ấn tượng nghèo nàn về tri thức, trái ngược với khả năng bình thường của bệnh nhân. Người bệnh ý thức được điều này và đau khổ về sự chậm chạp đó, vì vậy bệnh nhân bi quan mặc cảm.
b. Rối loạn sự liên tục của dòng tư duy: Là một biểu hiện của rối loạn hình thái tư duy trong tâm thần phân liệt, nó biểu hiện một sự không liên quan giữa các nội dung trong dòng tư duy.
– Liên tưởng rời rạc: Quá trình liên tưởng các ý tưởng không còn gắn kết với nhau, không có mối liên hệ lôgic với nhau.
– Tư duy tiếp tuyến: Bệnh nhân khi đề cập một việc đề gì thì không nói rõ về vấn đề đó mà tiếp cận bằng những ý tưởng xa gần, không trực tiếp liên quan đến vấn đề mình muốn đề cập.
– Tư duy ngắt quãng: Khi đang nói chuyện, dòng tư duy như bị cắt đứt, dừng lại, bệnh nhân không nói tiếp được, lát sau lại nói tiếp nhưng với chủ đề khác, có khi có những ý tưởng ký sinh, định hình .
– Tư duy lịm dần: Đặc trưng bởi một sự giảm nhanh về cả lượng từ lẫn sự súc tích trong lời nói, bệnh nhân nói chậm, thưa và nhỏ dần rồi gián đoạn hoàn toàn, sau đó lại dần dần nói lại, bệnh nhân không hiểu tại sao lại như vậy .
– Đáp lập lại: Mặc dù được hỏi bằng câu hỏi sau nhưng bệnh nhân vẫn trả lời cho câu hỏi trước .
– Ngôn ngữ định hình: Bệnh nhân cứ nói lập đi lập lại một ý tưởng nào đó có tính chất máy móc .
– Xung động lời nói: Đột nhiên bệnh nhân nói một tràng dài rồi im bặt, bệnh nhân không cưỡng được và không do một kích thích thích hợp, thường có nội dung thô lỗ, tục tỉu.
c. Rối loạn hình thức ngôn ngữ:
– Nói một mình: Hay còn gọi là độc thoại, bệnh nhân nói lẩm bẩm một mình, không có nội dung rõ ràng, gặp trong tâm thần phân liệt.
– Đối thoại tưởng tượng: Bệnh nhân nói chuyện với ảo thanh, hay như đang nói chuyện với một người tưởng tượng về một nội dung nào đó, gặp trong tâm thần phân liệt.
– Trả lời bên cạnh: Ta hỏi một đằng bệnh nhân trả lời một nẻo, gặp trong tâm thần phân liệt.
– Không nói: Bệnh nhân không nói hoàn toàn mà không có nguyên nhân thực thể, phải phân biệt với triệu chứng không nói chủ động là bệnh nhân không muốn nói do lâm vào những tình huống khó khăn, hoặc trong những trường hợp giả vờ câm và thường kết hợp với điếc giả vờ.
– Nói lập lại: Bệnh nhân cứ lập đi lập lại một từ hoặc một âm có tính chất máy móc, không có chủ ý, gặp trong các tổn thương thực thể như hội chứng Parkinson, mất trí Pick .
– Đáp lập lại: Chỉ trả lời câu hỏi trước mặc dù được hỏi thêm nhiều câu hỏi kế tiếp
– Nhại lời: Là sự lập lại một cách tự động từ cuối cùng hoặc câu cuối cùng của người hỏi chuyện, thường gặp trong các bệnh tâm thần do tổn thương thực thể, thiểu năng trí tuệ, hoặc mất trí .
d. Những biến đổi ngữ nghĩa: Bệnh nhân dùng những từ thông thường nhưng hoàn toàn theo một nghĩa riêng của mình, khác với quy ước của mọi người và không theo ý nghĩa thông thường, thường có ý nghĩa tượng trưng .
– Bịa từ mới: Bệnh nhân tạo ra những từ mới với những ý nghĩa riêng mà chỉ có bệnh nhân mới biết , không liên quan đến ngữ nghĩa thông thường, gặp trong tâm thần phân liệt.
– Ngôn ngữ hỗn độn: Bệnh nhân dùng những từ, những câu tối nghĩa, không kế tục nhau, hỗn độn, không diễn đạt được một nội dung nào cả, triệu chứng này thường gặp trong tâm thần phân liệt, hoặc trong các trạng thái mất trí do tổn thương thực thể .
– Loạn ngữ pháp: Bệnh nhân nói không theo ngữ pháp thông thường mà tạo ra những cú pháp riêng, hình thành một loại ngôn ngữ riêng làm người khác không hiểu được, thường gặp trong tâm thần phân liệt.
e. Các rối loạn tư duy toàn bộ
Nghĩa là vừa rối lọan cả nội dung lẫn hình thức tư duy, rối loạn loại này có những triệu chứng sau :
– Tư duy phi thực tế: Là loại tư duy thoát ra khỏi những ràng buộc của thực tế, hoàn toàn tuân theo cảm xúc và bản năng, đây là loại tư duy mơ mộng, mang tính trừu tượng thường gặp trong tâm thần phân liệt.
– Tư duy tự kỷ: Gặp trong tâm thần phân liệt, là loại tư duy xa rời thực tế bên ngoài và quay vào với cuộc sống nội tâm.
– Tư duy thần bí: Là loại tư duy không bị ràng buộc vào lôgic bình thường có những đặc điểm tư duy trẻ con, mê tín tạo ra rất nhiều nghi thức xã hội, gặp trong hội chứng ám ảnh .
– Tư duy phi lôgic: Là loại logic mà bệnh nhân dùng để củng cố những kết luận hoặc những ý tưởng ưu thế của mình, lý luận này mới nghe qua thì tưởng là chính xác nhưng các tiền đề lại giả tạo. Kết luận mơ hồ và sự phán đoán tổng thể thì sai lạc.
– Lý luận bệnh lý: Là loại tư duy luôn theo những cách lý luận không có đối tượng, không liên quan và xa rời thực tế cụ thể .
– Tư duy nghèo nàn: Nội dung thông tin ít ỏi, mơ hồ, vốn từ giảm sút.
– Tâm thần tự động: Là một trạng thái nhận thức rất đặc biệt của tư duy về hoạt động tâm thần của mình, trong trạng thái nầy bệnh nhân không còn kiểm soát được hoạt động tâm thần của mình và giới hạn của bản thân cũng bị mất đi .
Bệnh nhân có cảm tưởng tư duy mình bị người khác đoán được, bị lấy cắp hoặc tư duy bị vang thành tiếng trong đầu của mình, có khi tiếng vọng trong đầu này nghe rất xa lạ hoặc luôn bị ký sinh bởi một dòng tư duy nào đó .
Bệnh nhân có cảm giác bị bên ngoài chi phối, thế lực này bắt bệnh nhân suy nghĩ theo cách không phải của mình, bắt bệnh nhân nói hoặc thực hiện một số động tác nào đó, có khi kích động hay những xung động khó hiểu do bên ngoài chi phối .
Tư duy vang thành tiếng, bệnh nhân nghe được tư duy của mình như là một thực thể khách quan từ bên ngoài.
4. Điều trị:
– Điều trị bệnh chính.
– Một số thuốc có thể dùng: vitamin nhóm B, các thuốc dưỡng não như: nootropin, duxil, tanakan, gliatilin…
– Ngoài ra: Dùng phương pháp tâm lý liệu pháp, thể dục, thư giãn.
5. Phòng bệnh:
– Ăn uống cân bằng, đủ chất.
– Tránh những thực phẩm chứa nhiều mỡ, đường và muối.
– Tăng cường luyện tập thể thao, hạn chế cuộc sống tĩnh tại.
– Áp dụng các bài tập cho não thông qua các hoạt động hàng ngày như đọc sách báo, chơi cờ, giao tiếp bạn bè, tham gia các hoạt động xã hội, các sinh hoạt ở phường hội, câu lạc bộ…
– Hạn chế tiếp xúc môi trường độc hại.
– Hạn chế, tránh xa các đồ gây nghiện như rượu, bia, thuốc lá…
– Duy trì cuộc sống vui vẻ, lạc quan, yêu đời, bỏ xa ý nghĩ hận thù, cay cú hay cực đoan.
6. Chăm sóc người bệnh:
Người thân của người bệnh suy nhược trí nhớ cần chú ý:
– Lắng nghe và theo dõi những hành động không lời của bệnh nhân để hiểu họ đang muốn gì.
– Cần hòa nhập vào thế giới của người bệnh, nói về những chuyện trong quá khứ. Cần kiên nhẫn, nhẹ nhàng, tránh làm người bệnh sợ hãi.
– Thường xuyên giới thiệu bản thân và mối quan hệ của bạn với người bệnh.
– Tạo cho người bệnh cảm giác được yêu thương, chăm sóc.
– Đánh lạc hướng, thay vì cố tranh cãi, hãy trấn an và làm cho họ quên đi bằng cách thay đổi đề tài.
– Thường xuyên khuyến khích người bệnh những việc đơn giản như: Mặc áo, đánh răng… và hãy khen ngợi khi họ thành công.
– Hãy tôn trọng người bệnh như trước đây. Sự giận dữ sẽ gây ra những phản ứng tiêu cực.
– Ngoài ra, nên trưng bày hình ảnh kỷ niệm xưa ở chỗ dễ thấy để kích thích trí nhớ, nhất là những hình gợi lại sự thành công người thân. Treo đồng hồ, lịch chữ to để nhắc nhở ngày tháng, thời gian.
– Phòng ở đầy đủ ánh sáng, ít đồ đạc để dễ đi lại, tránh va chạm. Mọi người trong nhà nên tới thăm hỏi thường nhật.
Nguyên Cố vấn cao cấp Trung tâm Ung bướu – Tế bào gốc, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Huyết học – Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa
Nguyên là Phó Trưởng khoa Tai – Tai Thần kinh – Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương.
Hiện nay Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa có lịch thăm khám và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa An Việt
Bác sĩ Chuyên khoa Ung bướu – Nội tiết
Chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tuyến giáp ở Việt Nam
Chủ tịch CLB người bệnh ung thư tuyến giáp và các bệnh lý tuyến giáp
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 500.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 250.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 300.000đ |