Hạch nách và ung thư vú

BookingDoctor là Hệ thống đặt lịch hẹn khám trực tuyến hoàn toàn miễn phí đem đến giải pháp giúp cho việc khám bệnh trở nên thuận tiện, dễ dàng, chính xác, hiệu quả

1. Tổn thương hạch vùng

            Các vị trí hạch thường bị tổn thương trong ung thư vú là hạch nách, hạch vú trong và hạch thượng đòn, hiểu biết về điều này là quan trọng trong việc phân giai đoạn và lập kế hoạch điều trị cho các bệnh nhân ung thư vú.

2. Tổn thương hạch nách

            Hạch vùng nách là vị trí chính để dẫn lưu dịch bạch huyết của vú. Khoảng 50% bệnh nhân ung thư vú có biểu hiện trên lâm sàng có tổn thương hạch nách về mô học. Khả năng tổn thương hạch nách liên quan trực tiếp đến kích thước u nguyên phát.

            Các bệnh nhân có di cạn xa tại thời điểm chẩn đoán, ung thư tại chỗ hoặc có ung thư trước đó được loại trừ khỏi nhóm nghiên cứu. U càng có kích thước lớn thì nguy cơ tổn thương hạch nách càng cao, các bệnh nhân bị ung thư vú vi xâm nhập là nhóm duy nhất có nguy cơ di căn hạch ổn định dưới 5% qua các báo cáo. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng hạch nách thường bị tổn thương hơn khi u nằm ở phần bên của vú so với khi u nằm ở phần trung tâm.

            Theo điều tra quốc gia của Hội ung thư Hoà Kỳ (ACS) năm 1978,43% các bệnh nhân có u nằm ở nửa bên có tổn thương hạch nách so với 35% của các bệnh nhân có u nằm ở giữa vú. Haagensen có kết quả tương tự về tần xuất di căn hạch nách sau khi nghiên cứu 9 1 7 bệnh nhân được điều điều trị cắt vú triệt để . Trong nghiên cứu này, tỷ lệ hạch dương tính là 47% đối với các trường hợp có u nằm ở 1/4 trên ngoài, 38% đối với u ở 1/4 dưới ngoài, 30% với u ở 1/4 trong trên và 23% với các u ở 1/4 dưới trong. Nghiên cứu của Fisher và cộng sự cũng có kết quả tương tự. 

            Khả năng hạch nách bị tổn thương tăng lên khi u nằm ở bên so với khi u nằm ở trung tâm có lẽ liên quan đến sự hấp thu của dịch bạch huyết của các u trung tâm thường đổ về các hạch vú trong. Kết quả là tổn thương hạch vùng (hoặc hạch nách, hoặc hạch vú trong) của các u ở bên hoặc trung tâm là giống nhau.

            Tỷ lệ tổn thương hạch nách về mô học phụ thuộc ở mức độ nhất định vào kĩ thuật vét hạch và sự cẩn thận khi xét nghiệm giải phẫu bệnh các bệnh phẩm. Phẫu thuật cắt vú triệt căn cho phép cắt bỏ triệt căn nhất các thành phần trong nách và vì vậy, số lượng hạch nách thu được cũng là lớn nhất. Các phương pháp phẫu thuật hạn chế hơn như phẫu thuật cắt tuyến vú triệt căn cải biên sẽ cắt ít các thành phần trong nách hơn và số hạch thu được cũng ít hơn.

            Phát hiện tổn thương hạch nách bằng lâm sàng có tỷ lệ âm tính giả và dương tính giả cao. Khi hạch nách có thể sờ thấy và nghi ngờ ung thư thì di căn về mô học là 70% các trường hợp. Ngược lại, khi hạch nách không sờ thấy thì tổn thương về mô học là 30%. Số liệu này cho thấy nhược điểm của lâm sàng khi dự đoán tổn thương về mô học.

            Tổn thương di căn hạch nách có quan hệ chặt chẽ với tiên lượng. Kết quả sống thêm 10 năm ở bảy nghiên cứu trên các bệnh nhân được điều trị cắt vú triệt căn cho thấy các bệnh nhân có hạch nách âm tính có tỷ lệ sống thêm cao hơn rõ rệt so với các bệnh nhân có tổn thương hạch nách trên mô học. Các bệnh nhân có 1-3 hạch nách di căn cũng tiến triển tất hơn các bệnh nhân có 4 hoặc hơn bốn hạch bị tổn thương.

            Ngày nay, có nhiều nơi chia bệnh nhân thành các nhóm có từ 1-3 hạch, 4-9 hạch và lớn hơn hoặc bằng 10 hạch có di căn.

            Nách thường được chia làm 3 tầng:

                        – Tầng 1 (tầng gần vú nhất) bao gồm các mô ở trong và bên của bờ dưới cân cơ ngực bé.

                        – Tầng 2 (tầng giữa) gồm các mô ở ngay dưới cân cơ ngực bé.

                        – Tầng thứ 3 (ở xa nhất) gồm các mô ở trên và ở giữa cân cơ ngực bé. Các nghiên cứu đã chứng minh là tiên lượng có liên quan tới các tầng nách bị tổn thương.

            Tổn thương hạch nách ở tầng xa nhất có tiên lượng xấu hơn tổn thương hạch nách ở tầng 1 .

            Các hạch nách cũng được chia nhỏ thành các nhóm là hạch vú ngoài, hạch trung tâm, hạch xương bả vai, hạch tĩnh mạch nách, hạch dưới đòn hay hạch đỉnh và hạch giữa cân ngực (hạch Rotter). Haagensen đã ghi nhận các vị trí di căn ở nách theo phân loại này và thấy rằng vị trí tổn thương phổ biến nhất là nhóm hạch trung tâm. Khi chỉ một hạch bị tổn thương thì trong hầu hết các trường hợp là thuộc nhóm trung tâm. Vị trí thường gặp thứ hai là nhóm hạch tĩnh mạch nách, sau đó là nhóm hạch xương bả vai, giữa cân ngực và nhóm dưới đòn.

            Adair và một số tác giả khác đã thông báo rằng với những bệnh nhân có hạch nách âm tính:

                        – Tỷ lệ sống thêm 30 năm là 61% khi u nguyên phát nhỏ hơn hoặc bằng 2 cm;

                        – 46% khi u từ 2-5 cái và 32% với các u lớn hơn 5 cm.

                        – Với những bệnh nhân có tổn thương hạch nách ở tầng 1, tỷ lệ sống thêm 30 năm là 40% khi u nhỏ hơn hoặc bằng 2 cm,

                        – 31% khi u từ 2-5 cái và 14% khi u lớn hơn 5 cm.

Đặt khám dễ dàng cùng BookingDoctor

Chọn và đặt (miễn phí)

Địa chỉ Khám

Phòng khám Đa khoa Nhật Bản T-Matsuoka
154 Phố Nguyễn Thái Học, Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội

Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Trung Chính

Nguyên Cố vấn cao cấp Trung tâm Ung bướu – Tế bào gốc, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Huyết học – Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Hà Nội
Chọn và đặt (miễn phí)

Địa chỉ Khám

Bệnh viện Đa khoa An Việt
1E Trường Chinh, Thanh Xuân, Hà Nội

PGS.TS. Đoàn Thị Hồng Hoa

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa

Nguyên là Phó Trưởng khoa Tai – Tai Thần kinh – Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương.

Hiện nay Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa có lịch thăm khám và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa An Việt

Hà Nội
Chọn và đặt (miễn phí)

Địa chỉ Khám

Bệnh viện Đa khoa An Việt
1E Trường Chinh, Thanh Xuân, Hà Nội

Giá khám:

500.000đ . Xem chi tiết
500.000đ
Ẩn bảng giá

Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Văn Sâm

Bác sĩ Chuyên khoa Ung bướu – Nội tiết
Chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tuyến giáp ở Việt Nam
Chủ tịch CLB người bệnh ung thư tuyến giáp và các bệnh lý tuyến giáp

Hà Nội

TS.BS. Phạm Như Hùng

  • Tổng thư ký Hội Tim Mạch Can Thiệp
  • Thành viên thường niên Hội Tim Mạch Học Hoa Kỳ
  • Chuyên gia về điện sinh lý học và tạo nhịp tim
  • Ban thư ký biên tập tạp chí Tim Mạch Học Hoa Kỳ và nhiều tạp chí y khoa trên thế giới
  • Thư ký Hội Tim Mạch Việt Nam
  • Bác sĩ Khoa C3 – Viện Tim Mạch Việt Nam
  • Bác sĩ tại phòng Điện tâm đồ và Điện sinh lý học Tim – Viện Tim mạch Việt Nam
  • Bác sĩ khoa Can thiệp tim mạch – Bệnh viện Đông Đô
Hà Nội

Đặt lịch khám

Chọn và đặt (miễn phí)

Địa chỉ Khám

Bệnh viện Đa khoa Đông Đô
Số 5 phố Xã Đàn - Đống Đa - Hà Nội

Giá khám:

250.000đ . Xem chi tiết
Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm 250.000đ
Ẩn bảng giá

Pgs. Ts Phạm Mạnh Hùng

  • Tổng Thư ký Hội Tim mạch Việt Nam
  • Viện trưởng Viện Tim mạch Quốc gia –  Bệnh viện Bạch Mai
  • Trưởng phòng Tim mạch Can thiệp – Viện Tim mạch – Bệnh viện Bạch Mai
  • Thành viên Hội Tim mạch Hoa Kỳ
  • Chủ nhiệm và Giảng viên cao cấp Bộ môn Tim Mạch Đại học Y Hà Nội.
  • Thành viên Hội đồng Cố vấn Chuyên môn Bệnh viện Đông Đô
Hà Nội

Đặt lịch khám

Chọn và đặt (miễn phí)

Địa chỉ Khám

Bệnh viện Đa khoa Đông Đô
Số 5 phố Xã Đàn - Đống Đa - Hà Nội

Giá khám:

300.000đ . Xem chi tiết
Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm 300.000đ
Ẩn bảng giá

Đặt khám dễ dàng cùng Bookingdotor

Danh sách bác sĩ đang cập nhật

Bài viết liên quan


    • Đặt lịch khám

      Chúng tôi sẽ liên hệ với bạn ngay sau khi bạn đặt lịch phẫu thuật

    • 02473011881
      Let's Chat

      Let's Chat

      Liên hệ với mình nếu bạn cần hỗ trợ