1. Hẹp hạ thanh môn
Hẹp hạ thanh môn thể hiện qua nhiều dạng:
– Sụn nhẫn: kích thước nhỏ, dày vòng sụn nhẫn: toàn bộ hay một chỗ, dị hình: sụn nhẫn có hình bầu dục giảm đường kính ngang.
– Xơ dày hạ thanh môn hoặc ở trước hoặc ở bên.
– Hẹp vòng sụn đầu của khí quản.
1.1. Chẩn đoán
a. Lâm sàng:
Các triệu chứng cơ bản là khó thở thanh quản, tiếng rít, khàn tiếng, ho và mất tiếng. Các triệu chứng và mức độ nặng nhẹ rất khác nhau, tùy theo tổn thương.
Khó thở thường xuất hiện sớm, mức độ tùy theo độ chít hẹp. Có thể gây nên suy hô hấp nặng với tím tái rõ ngay những giờ đầu sau đẻ đòi hỏi phải mở khí quản cấp. Cũng có thể có khó thở nhẹ, khi gắng sức, từng lúc đòi hỏi phải phân biệt được với viêm thanh quản hay tái phát thường gặp ở trẻ dưới 6 tháng tuổi. Cũng có khi chỉ phát hiện khi thực hiện gây mê nội khi quản.
b. X quang:
với tư thế cổ thẳng và cổ nghiêng có thể cho thấy có chít hẹp hạ thanh môn hoặc dây phần trước của sụn nhẫn qua tư thế cổ nghiêng.
c. Nội soi: cho chấn đoán xác định.
Nên thực hiện trước tiên nội soi với sợi mềm để loại trừ các dị dạng ở trên thanh môn, đóng – mở ở thanh môn.
Để kiểm tra hạ thanh môn cần soi thanh quản trực tiếp với ống cứng để xác định được kích thước và hình dạng đầy đủ của hạ thanh môn.
Với trẻ trên 3kg cân nặng nếu không đưa được ống soi có khẩu kính 5mm (số 3) hay đưa quá khó khăn phải coi là có hẹp hạ thanh môn.
Lưu ý: soi trực tiếp có thể gây chấn thương, phù nề sau soi nên luôn phải chuẩn bị đặc nội khí quản hay mở khí quản khi cần thiết.
1.2. Xử trí
Tùy thuộc vào tình trạng, mức độ khó thở:
a. Nếu chỉ khó thở từng lúc, khi gắng sức chỉ cần theo dõi đầy đủ, tình trạng hẹp hạ thanh môn thường sẽ tự cải thiện theo sự phát triển của trẻ.
Lưu ý:
– Khi có viêm mũi – họng – phải theo dõi sát, cho điều trị corticoid để tránh viêm gây phù nề hạ thanh môn làm tăng nặng khó thở.
– Nếu trẻ không lên cân, phát triển kém phải nghĩ tới thiếu thở, cần phải xử trí.
b. Nếu khó thở thường xuyên:
Mở khí quản được đặt ra. Nhưng do phải đặt ống lâu dài nêu đưa tới tình trạng căng thẳng, khó khăn cả về sinh hoạt lẫn phát triển tinh thần trong nhiều năm. Do đó nên thực hiện ngay chỉnh hình thanh – khí quản khi trẻ đạt trọng lượng 5kg trở lên.
2. Hẹp do màng thanh quản
Màng ở thanh quản gây hẹp gặp chủ yếu ở thanh môn, trên và dưới thanh môn rất hiếm gặp.
2.1 Chẩn đoán
a. Lâm sàng:
Triệu chứng cơ bản là khó phát âm, thường rất rõ, có thể mất tiếng.
Tùy theo màng dinh có gây khó thở nhưng thường là không ảnh hưởng đến thở.
b. Nội soi:
Để chẩn đoán xác định.
Thấy một màng mỏng, mờ hay đục, thường ở 1/3 trước hai gây thanh, bờ tự do ở phía sau lõm xuống, bờ trong của dây thanh còn thấy được và phân tách ra rất rõ.
Nếu màng dày, bờ trong của hai dây thanh không phân biệt rõ, cần nghĩ tới hẹp hạ thanh môn kèm theo.
2.2. Xử trí
a. Nếu hẹp do màng thanh môn đơn thuần thì xử trí đơn giản qua nội soi, cắt rời màng là đủ. Qua đó giọng nói được cải thiện ngay, cả khó thở nếu có, nếu không sợ bị tái phát.
b. Nếu kèm theo hẹp hạ thanh môn thì xử trí sẽ khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải phẫu thuật chỉnh hình hạ thanh môn.