Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
Có nhiều bệnh lý làm tổn thương sụn khớp của chỏm xương và sụn như bệnh họai tử chỏm xương, thoái hoá khớp, viêm khớp dạng thấp…Trong thời gian đầu của bệnh, đa số chúng ta áp dụng các phương pháp điều trị bảo tồn như thuốc kháng viêm, thuốc giảm đau, giảm sức tì đè lên khớp…. tuỳ theo từng loại bệnh khác nhau. Những trường hợp sau sẽ được xem xét nên phẫu thuật thay khớp :
– Đau kéo dài mặc dù đã điều trị bảo tồn tích cực, đau làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của người bệnh
– Đi lại khó khăn, nhất là đi lên hoặc đi xuống cầu thang
Thay khớp nhân tạo thuờng áp dụng cho những bệnh lý làm tổn thương nặng khớp như:
– Hoại tử chỏm xương
– Thoái hoá khớp
– Viêm khớp dạng thấp
– Gãy cổ xương
– U xương…
2 Phân loại khớp nhân tạo
2.1 Khớp nhân tạo toàn phần và bán phần:
– Khớp nhân tạo toàn phần: là phẫu thuật lấy bỏ đi phần chỏm xương và thay bằng chỏm kim loại hay bằng sứ với một chuôi cắm vào trong lòng tủy xương và có thể nạo bỏ phần ổ cối bị hư để đặt vào đấy một chén bằng kim loại bên trong có chứa polyethylene hay bằng sứ. Khớp nhân tạo toàn phần là loại khớp có cả phần chỏm và phần ổ cối.
– Khớp nhân tạo bán phần: là loại chỉ có chỏm kim loại bao gồm chỏm Moore là loại có chỏm gắn chặt với chuôi bằng kim loại và cắm vào trong lòng tủy xương, loại này chỏm kim loại sẽ xoay nên sẽ gây đau làm hạn chế cử động của bệnh nhân.
Loại khớp nhân tạo bán phần lưỡng cực là loại có chỏm bằng kim loại bên ngoài bao lấy một chỏm nhỏ bên trong, chỏm nhỏ này lại gắn với chuôi để cắm vào trong lòng tủy xương và như vậy chỏm con sẽ quay quanh chỏm lớn làm hạn chế sự cọ sát giữa chỏm lớn với ổ cối xương làm giảm đau cho bệnh nhân.
2.2Khớp nhân tạo có xi măng hay không có xi măng:
– Khớp nhân tạo có xi măng: là phương pháp dùng xi măng để gắn cố định khớp vào xương. Vì là khớp nhân tạo nên khớp này có tuổi thọ nhất định, trung bình vào khoảng 10 -15 năm. Nguyên nhân hư khớp nhân tạo bao gồm sự mòn của khớp do hai mặt khớp cọ sát vào nhau, do lỏng khớp vì khối xi măng gắn không chặt, do các mảnh vụn rớt ra khi cọ sát gây phản ứng viêm làm lỏng chuôi khớp hay lỏng chén kim loại.
– Khớp không có xi măng: Từ việc lỏng chuôi có xi măng, các bác sĩ nghĩ rằng nếu làm loại khớp mà không dùng đến xi măng, đóng khít chặt vào lòng tủy xương và vào ổ cối, khớp có tráng một số phần tử kích thích sự mọc xương vào trong khớp sẽ giữ được khớp nhân tạo lâu hơn. Khớp không có xi măng được phát triển thành nhiều loại nhỏ tuỳ thuộc vào bề mặt tiếp xúc chịu lực của nó là: kim loại – nhựa cao phân tử, sứ – sứ, kim loại – kim loại…. Loại khớp này có những ưu điểm nên thường dành cho người trẻ tuổi. Các loại khớp sứ hay kim loại có độ bào mòn thấp nên thường áp dụng cho người trẻ tuổi và nhu cầu đi lại nhiều.
3 Kỹ thuật thay khớp
– Vô cảm: thường gây tê tủy sống hoặc gây tê ngoài màng cứng, có khi phải gây mê toàn thân.
– Tiến hành: Phẫu thuật thay khớp kéo dài từ 2 đến 3 giờ. Sau khi rạch da, lớp cân cơ để vào khớp, lấy bỏ phần xương bị hư, nạo lớp xương sụn, ướm chọn kích thước khớp nhân tạo thích hợp, định vị hướng chính xác và đặt khớp nhân tạo vào khớp.
– Hậu phẫu: Sau khi phẫu thuật xong, người bệnh được chuyển đến nằm săn sóc tại phòng hồi sức. Ở đây người bệnh được theo dõi huyết áp, nhịp tim, nhịp thở, truyền máu, truyền dịch và dùng thuốc. Thông thường người bệnh được nằm lại săn sóc tại phòng hồi sức từ 6 giờ đến 12 giờ.
– Tập luyện sau mổ: Ngày nay quan điểm về thay khớp đã thay đổi, bác sỹ phẫu thuật luôn khuyên người bệnh tập càng sớm càng tốt, giúp hồi phục nhanh và giảm các biến chứng. Ngay sau mổ, bệnh nhân cần được tập luyện tại giường bệnh. Ngày đầu người tập các bài tập tại giường, được phép ngồi dậy. Ngày thứ hai người bệnh sẽ được hướng dẫn cách thức chống nạng đi lại, sau đó có thể đi lại trong phòng. Chương trình tập luyện để phục hồi chức năng khớp sau mổ sẽ được Bác sỹ hướng dẫn tiếp tục cho người bệnh sau khi xuất viện để tự tập tại nhà.
4 Các biến chứng khi thay khớp nhân tạo:
Thay khớp là một phẫu thuật lớn, nhờ sự chuẩn bị tốt, phương tiện gây mê hồi sức tốt, kíp phẫu thuật thông thạo nên đa số an toàn sau phẫu thuật. Tuy nhiên cũng có khi xảy ra biến chứng và thường được xử trí thành công nếu như phát hiện kịp thời. Các biến chứng có thể xảy ra sau phẫu thuật thay khớp:
– Tắc mạch: Có hiện tượng hình thành những cục máu đông trong lòng mạch sau mổ thay khớp. Có thể do ít vận động sau khi mổ hoặc do sang thương mạch máu trong quá trình phẫu thuật. Chính vì vậy bệnh nhân cần vận động sau khi mổ tích cực ngay sau khi tỉnh dậy, hoặc cho bạn dùng thuốc chống đông máu. Hiện tượng tắc mạch thường gặp ở những nước Châu Âu hơn châu Á chúng ta.
– Nhiễm trùng: Cũng giống như mọi phẫu thuật khác đều có nguy cơ nhiễm trùng sau mổ. Có thể chỉ là nhiễm trùng nông vùng vết mổ, cũng có khi nhiễm trùng sâu bên trong khớp, tỉ lệ nhiễm trùng nói chung khoảng 1%. Nhiễm trùng sớm xảy ra trong thời gian đầu sau mổ, có trường hợp nhiễm trùng muộn xảy ra sau mổ vài năm do vi khuẩn di chuyển theo đường máu từ một ổ nhiễm trùng khác trong cơ thể lan đến khớp. Dùng kháng sinh để điều trị nhiễm trùng, có khi phải mổ cắt lọc, súc rửa vết thương nhiều lần để điều trị những trường hợp nhiễm trùng sâu. Có những trường hợp kéo dài dai dẳng phải mổ lấy khớp nhân tạo ra, sau một thời gian ổn định sẽ mổ thay lại khớp khác.
– Trật khớp: Tỉ lệ trật khớp trung bình từ 1 – 3 %. Tuỳ theo lọai khớp nhân tạo, đường mổ, trình trạng sức khoẻ của người bệnh, kinh nghiệm của phẫu thuật viên mà tỉ lệ trật khớp sẽ khác nhau. Người bệnh nên tránh những tư thế dễ làm trật khớp như gập quá 90 độ…Nếu xảy ra trật khớp, bác sỹ sẽ nắn lại khớp và bó nẹp bất động một thời gian, hiếm khi phải mổ đặt lại khớp nhân tạo.
– Lỏng khớp: theo thời gian sự kết dính giữa khớp nhân tạo với xương của người bệnh sẽ bị yếu đi, khớp nhân tạo sẽ bị lỏng. Tuổi thọ trung bình của khớp nhân tạo là 15 năm, có khi 10 năm nhưng cũng có khi kéo dài đến 20 năm. Nó tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: loại khớp nhân tạo, kỹ thuật mổ, chất lượng xương của người bệnh…Nếu khớp bị lỏng nhiều thì phải mổ thay lại một khớp khác.
– So le chi: Trong quá trình phẫu thuật, bác sỹ cố gắng cân bằng chiều dài 2 chân, tránh hiện tượng so le chi. Mức so le cho phép 1-2 cm. Tuy nhiên nếu bác sỹ phẫu thuật chuẩn bị trước mổ đầy đủ, đo kích cỡ khớp nhân tạo chính xác thì hạn chế được biến chứng so le chi.
– Gẫy khớp nhân tạo.
– Cứng khớp: Phần mền xung quanh khớp bị xơ cứng làm cho giới hạn vận của khớp nhân tạo. Quá trình xơ hoá này còn gọi là xương mọc lạc chổ, thường không gây đau đớn mà chỉ làm cứng khớp. Nếu người bệnh có yếu tố nguy cơ bệnh xương mọc lạc chổ thì nên báo cho Bác sỹ biết để cho thuốc uống hoặc dùng tia xạ điều trị dự phòng.
Nguyên Cố vấn cao cấp Trung tâm Ung bướu – Tế bào gốc, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Huyết học – Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa
Nguyên là Phó Trưởng khoa Tai – Tai Thần kinh – Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương.
Hiện nay Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa có lịch thăm khám và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa An Việt
Bác sĩ Chuyên khoa Ung bướu – Nội tiết
Chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tuyến giáp ở Việt Nam
Chủ tịch CLB người bệnh ung thư tuyến giáp và các bệnh lý tuyến giáp
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 500.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 250.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 300.000đ |