Tai biến mạch máu não

BookingDoctor là Hệ thống đặt lịch hẹn khám trực tuyến hoàn toàn miễn phí đem đến giải pháp giúp cho việc khám bệnh trở nên thuận tiện, dễ dàng, chính xác, hiệu quả

 

1. Khái niệm

Tai biến mạch máu não còn gọi là Đột quỵ não là một bệnh xảy ra khi việc cung cấp máu lên một phần bộ não bị đột ngột ngừng trệ.

2. Nguyên nhân

–        Gây tắc mạch máu não: Cục máu đông tại chỗ của động mạch não, thuyên tắc do xơ vỡ động mạch (chẳng hạn xuất phát từ động mạch cảnh), huyết tắc do bệnh tim (thí dụ rung nhĩ, nhồi máu cơ tim).

–        Gây vỡ mạch máu não: Tăng huyết áp, chấn thương, vỡ phình động mạch não.

–        Nguyên nhân ít gặp: Giảm huyết áp (tụt huyết áp đột ngột hơn 40 mm Hg), viêm động mạch, viêm tắc tĩnh mạch, thuyên tắc xoang tĩnh mạch. Ở người trẻ: bệnh tiểu cầu, chảy máu dưới màng nhện, dị dạng động mạch cảnh.

–        Yếu tố nguy cơ: Hút thuốc lá, đái tháo đường, bệnh van tim, thiếu máu cơ tim, rung nhĩ, bệnh mạch máu ngoại biên, tiền căn thiếu máu cục bộ thoáng qua, tăng thể tích hồng cầu, phụ nữ vừa hút thuốc lá vừa dùng thuốc tránh thai nội tiết tố, tăng chất béo trong máu, lạm dụng thức uống có cồn (rượu, bia), rối loạn chức năng đông máu.

3. Triệu chứng lâm sàng

–        Trong trường hợp điển hình, các triệu chứng xuất hiện đột ngột, tiến triển chỉ trong vài giờ (hoặc vài ngày). Trên lý thuyết, các triệu chứng thần kinh khu trú tương ứng với khu vực tưới máu của động mạch bị tổn thương, tuy nhiên do các động mạch thông nối với nhau nên có sự cấp máu bù bởi các động mạch còn nguyên, làm nhòe các triệu chứng.

–        Tổn thương trong bán cầu đại não (50 % các trường hợp) có thể gây ra: Liệt đối bên, khởi đầu là liệt mềm, dần dần diễn tiến đến liệt cứng; Giảm cảm giác đối bên; Giảm thị lực cùng bên; Nói khó.

–        Tổn thương thân não (25 %): Triệu chứng đa dạng, có thể gây liệt tứ chi, rối loạn thị giác, hội chứng khóa trong (tỉnh, hiểu nhưng do liệt, không làm gì được).

–        Tổn thương khiếm khuyết (25 %): Nhiều điểm nhồi máu nhỏ quanh hạch nền, bao trong, đồi thị và cầu não. Người bệnh vẫn ý thức, các triệu chứng có thể chỉ liên quan tới vận động hoặc cảm giác hoặc cả hai, có khi có triệu chứng thất điều.

Các triệu chứng xảy ra đột ngột:

–        Đột ngột thấy tê cứng ở mặt, tay hoặc chân – đặc biệt là tê cứng nửa người

–        Đột ngột nhìn không rõ (Thị lực giảm sút)

–        Đột ngột không cử động được chân tay (Mất phối hợp điều khiển chân tay)

–        Đột ngột không nói được hoặc không hiểu được người khác nói

–        Đầu đau dữ dội

Phụ nữ có thể có các biểu hiện đặc trưng sau:

–        Đột ngột đau ở mặt hoặc chân

–        Đột ngột bị nấc

–        Đột ngột cảm thấy buồn nôn

–        Đột ngột cảm thấy mệt

–        Đột ngột tức ngực

–        Đột ngột khó thở

–        Tim đập nhanh bất thường

4. Biến chứng

Viêm phổi, trầm cảm, co cứng, táo bón, loét do nằm lâu, liệt nửa người.

5. Xử trí

Cần phải đưa người bệnh vào viện để được chẩn đoán và điều trị thích hợp. Đối với người bị tai biến, thời gian là vàng, mạch máu đông hoặc vỡ phải được xử lý thật nhanh để đề phòng các biến chứng như liệt toàn thân, bại não, v.v. Khi người có các triệu chứng sau cần phải chú ý và đưa đến bệnh viện ngay lập tức:

Những việc có thể làm trước khi xe cấp cứu tới

–        Quan sát và hỏi bệnh nhân để biết bệnh nhân còn tỉnh táo (ý thức bình thường) hay lẫn lộn, lơ mơ hoặc hôn mê (rối loạn ý thức). Kèm theo dấu hiệu đại tiểu tiện không tự chủ chứng tỏ bệnh nhân đã mất ý thức.

–        Nếu bệnh nhân còn tỉnh: Cần để bệnh nhân nằm yên tĩnh và gọi cấp cứu đến để đưa bệnh nhân vào bệnh viện lớn có uy tín về cấp cứu tai biến mạch máu não.

–        Nếu bệnh nhân hôn mê: Cần xem bệnh nhân đang còn thở bình thường, thở nhanh, thở chậm, hay đã ngừng thở…, vì cấp cứu hô hấp là việc đầu tiên phải làm để đảm bảo đủ oxy cho tim và cho não. Nếu toàn bộ não thiếu oxy quá 3 phút thì dù cho cấp cứu tim đập lại cũng không cứu được não, y học gọi là mất não, hoặc chết não.

–        Kiểm tra nhịp tim và huyết áp ngay nếu có thể.

Đặc biệt lưu ý với người nhà hoặc người chứng kiến bệnh nhân đột quỵ não:

–        Bệnh nhân đột quỵ não có thể bị một trong hai dạng: Chảy máu não do vỡ mạch hoặc nhồi máu não do tắc mạch. Hai bệnh này đối nghịch nhau hoàn toàn về nguyên nhân, cơ chế và cách điều trị. Các bác sỹ chuyên khoa cũng không thể chỉ dựa vào biểu hiện bên ngoài để xác định chẩn đoán. Vì vậy, không được mạo hiểm tự điều trị cho bệnh nhân dù chỉ là các động tác như bấm huyệt nhân trung, châm cứu, đánh gió… Những tác động đó có thể làm trầm trọng hơn tình trạng bệnh của bệnh nhân mà chúng ta vô tình không biết.

–        Thực hiện hô hấp nhân tạo, nếu cần phải dùng miệng thổi hơi vào miệng bệnh nhân (hô hấp miệng-miệng) nếu thấy bệnh nhân ngừng thở.

–        KHÔNG ĐƯỢC cố di chuyển đầu, cổ bệnh nhân, trong trường hợp tai nạn, đầu hoặc cổ có thể bị gãy hoặc bị thương. Để bệnh nhân trong tư thế thoải mái. Nới lỏng quần áo.

–        KHÔNG ĐƯỢC cho bệnh nhân ăn hoặc uống. Tai biến khiến cho người bệnh không thể nuốt và sẽ gây nghẹn.

–        KHÔNG ĐƯỢC dùng aspirin. Mặc dù aspirin có thể làm giảm cục máu đông trong trường hợp tai biến tắc động mạch nhưng cũng có thể gây chảy máu trong nếu là tai biến vỡ mạch máu. Nếu người bệnh đã uống aspirin trong ngày, cần phải báo với bác sỹ cấp cứu.

–        Thở sâu. Thở chậm và sâu giúp bệnh nhân bình tĩnh và đưa máu lên não nhiều hơn. Để người bệnh nằm xuống và nói chuyện với người bệnh để họ bình tĩnh.

–        Giữ đầu mát và thân ấm. Nếu có đá lạnh, có thể chấm nhẹ qua đầu người bệnh để giữ mát. Bọc đá trong khăn để không quá lạnh. Giữ mát đầu để giảm phản ứng phù nề khi tai biến và có thể giúp người bệnh đỡ cảm thấy đau đầu. Giữ thân ấm bằng áo khoác hoặc chăn sẽ giảm được nguy cơ co giật (sốc).

–        Có thể liên hệ với một trung tâm y tế hoặc với bác sỹ thần kinh để được tư vấn sớm trước khi đưa bệnh nhân đến bệnh viện.

6. Dinh dưỡng tại nhà cho người tai biến mạch máu não – Món ăn Đông y Phòng và điều trị tai biến 

–        Cần cho bệnh nhân ăn đủ chất nhưng với một lượng thích hợp. Nên chọn thực phẩm ít cholesterol và nhiều đạm thực vật (đậu đỗ, đậu tương, đậu phụ) và đạm động vật (cá biển, cá đồng, sữa, thịt nạc…). Lượng protein cần giữ ở mức 0,8g/kg cân nặng/ngày. Chất béo nên giữ ở mức 25-30g/ngày. Bổ sung lượng vitamin và chất khoáng có trong các loại hoa quả chín, rau củ, sữa. Bổ sung axit folic ít nhất 300mcg mỗi ngày sẽ làm giảm 20% nguy cơ đột quỵ và 13% nguy cơ bệnh tim bằng cách ăn các loại quả có vị chua, rau lá xanh, các loại đậu, gạo…

–        Thức ăn phải dễ tiêu hóa, hấp thu và ở dạng mềm, lỏng như súp, cháo, sữa. Cần phân bố đều 3-4 bữa/ngày, không nên ăn quá no. Tránh dùng thức ăn lên men, gây kích thích như gia vị cay, nóng, rượu, chè, cà phê…; Giảm muối và nước. Tránh các loại thức ăn chế biến sẵn nhiều muối như dưa, cà, hành muối, bánh mỳ, thịt hun khói… Tránh tăng cân.

–        Đối với người ăn được khi ra viện , cho ăn như người bình thường, nếu ăn ít tăng thêm bữa. Thực phẩm chế biến phù hợp với khả năng nhai, đáp ứng đủ các chất dinh dưỡng cần thiết.

–        Cụ thể ở người bệnh 50 kg mỗi ngày cần 4 bát cơm, 200 g thịt nạc, 30 g dầu thực vật, hơn 400 g rau, trái cây. Muối < 6 g/ngày. Nước: 40 ml/kg cân nặng/ngày.

Thực đơn gợi ý:

–        Sáng: Cháo trắng trứng vịt muối (cháo một tô vừa, trứng vịt nửa quả) + một quả chuối.

–        Trưa: 1,5 bát cơm + bò xào bông cải (thịt bò 50 g, bông cải cà rốt 100 g), canh mướp khía nấu nghêu (mướp 100 g, nghêu 20 g), đu đủ 100 g;

–        Chiều: một bát cơm + cá lóc kho tộ (cá 100 g, đường 20 g, dầu ăn 5 g); rau sống một đĩa nhỏ 100 g, canh chua cá (cá 20 g, rau 100 g, đường 2 g), sương sâm 1 ly (1/2 muỗng cà phê đường);

–        Tối: 200 ml sữa bò tươi.

Nếu sốt:

Tăng 1 độ C cần tăng 1/10 lượng thực phẩm; hậu phẫu: tăng 1/10; gãy xương: tăng 2/10; nhiễm trùng huyết: tăng 3/10.
Đánh giá việc nuôi ăn, nuôi đúng:

Da hồng hào, không viêm loét; niêm mạc không bị lở loét; cân nặng đạt mức lý tưởng; cơ chắc; tóc mượt, không rụng. Nếu nuôi chưa đúng: sụt cân dần; da xanh; niêm nhợt; da, niêm mạc dễ lở loét; cơ nhão; tóc rụng
Đối với người không ăn được khi ra viện phải nuôi ăn qua ống thông mũi, dạ dày:

 Mỗi ngày cung cấp khoảng 1.800-2.000 ml sữa (nên dùng sữa bột) hoặc 2 lít cháo xay (nên sử dụng men amylaz để làm lỏng cháo nhằm tránh nghẹt ống).

–        Ngoài ra còn có các loại bột dinh dưỡng cao năng lượng, mỗi ngày cần 750-1.500 ml (1 ml cho 1 hoặc 2 kcal khi pha đúng hướng dẫn của nhà sản xuất).

–        Tư thế khi cho ăn là nửa nằm nửa ngồi.

–        Chia đều lượng thực phẩm trong ít nhất 5 bữa ăn trong ngày; bơm 15-20 phút mỗi bữa. Khoảng cách giữa các bữa ăn từ 2 đến 3 giờ tuỳ theo số lượng mỗi lần ăn. + Kiểm tra lượng thức ăn ứ đọng trước bữa ăn mới, nếu còn trên một nửa cần hỏi ý kiến bác sĩ.

Xử trí biến chứng khi cho ăn qua ống thông:

Khi bệnh nhân nôn, sình bụng phải giảm khối lượng mỗi bữa ăn, giảm tốc độ khi cho ăn bằng cách nhỏ giọt liên tục. Khi tiêu chảy phải giảm độ đậm của thức ăn, giảm tốc độ khi cho ăn.

7. Tập phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não

7.1 Tại bệnh viện:

Tuần đầu tiên: Đánh giá khả năng nuốt và trợ giúp cho bệnh nhân những hoạt động của cuộc sống hằng ngày.

Tuần thứ 2 đến tuần thứ 6: Rèn luyện cho bệnh nhân dùng một tay để làm các công việc như mặc quần áo, tắm rửa, đi vệ sinh. Cho bệnh nhân rèn luyện ở tay bị liệt, dùng vai và khuỷu tay để trợ giúp cho những động tác như cầm, nắm và kéo. Cho tập luyện có theo dõi và trợ giúp ở những khoảng cách khoảng 10 m.

Cần đổi tư thế nằm của bệnh nhân mỗi giờ để chống loét. Xoa bóp bắp cơ, vận động các khớp tay và chân cho bệnh nhân để máu lưu thông và tránh cứng khớp, teo cơ. Tập vận động để giúp hồi phục nhanh.

7.2. Ở nhà sau khi nằm viện:

–        Sau khi xuất viện, tập vận động tại nhà hoặc có thầy thuốc chuyên khoa vật lý trị liệu hướng dẫn.

–        Cố gắng cho bệnh nhân tự làm các hoạt động sinh hoạt hàng ngày với sự trợ giúp của thân nhân để có thể hồi phục sớm. Và đặc biệt, bệnh nhân cần uống thuốc đầy đủ theo chỉ dẫn của bác sĩ và tái khám đúng hẹn.

Tháng thứ 1 đến tháng thứ 6:

Tập cho bệnh nhân đi bộ mỗi ngày khoảng 5 phút; cho tập những động tác như cầm cốc, cầm sách, gấp quần áo, tập cầm nâng những đồ vật kích cỡ, nặng nhẹ khác nhau. Mỗi ngày tập luyện khoảng 20 phút cho đến khi bệnh nhân có thể tự làm được động tác này. Nếu bệnh nhân không thể tự làm, có thể dùng các dụng cụ trợ giúp tay hoặc chân. Cho bệnh nhân tập theo các dụng cụ này.

Ngoài 6 tháng:

Tăng cường đi bộ. Nếu bệnh nhân mất tiếng nói, nên cho nghe và đọc các câu chuyện trên báo chí, truyền hình, rồi ngay lập tức cho bệnh nhân tập kể lại câu chuyện. Tập những kỹ năng này với mức độ khó tăng dần, khoảng 20 giờ mỗi tuần.

Khoảng 20% bệnh nhân có mất tiếng nói sau tai biến mạch máu não. Việc điều trị cho bệnh nhân mất tiếng nên bắt đầu từ sớm, ngay trong 3 tháng đầu tiên. Các chuyên gia tiếng nói khi tập luyện cho bệnh nhân trong giai đoạn đầu cần có sự tham gia của những người thân trong gia đình hoặc những người tình nguyện. Họ chính là những người sẽ tiếp tục giúp đỡ cho bệnh nhân ở giai đoạn sau. Thời gian cho tập luyện tiếng nói phải là 40-100 giờ trong 3 tháng đầu tiên.

Sự hồi phục thường cơ thể chỉ có ở những bệnh nhân có tổn thương mức độ trung bình. Với những bệnh nhân bị tổn thương mức độ nặng thì sự hồi phục gần như là không có. Với những bệnh nhân bị liệt nửa người, phải tập luyện những động tác hỗ trợ, như tự chuyển từ giường qua xe lăn hoặc tự di chuyển bằng kỹ năng dùng một tay. Sự tập luyện tích cực với cường độ cao 16 giờ hoặc hơn mỗi tuần có tác dụng hồi phục tốt hơn hẳn những bệnh nhân chỉ tập luyện vài giờ mỗi tuần.

Nên tập luyện sớm tay ngay khi tay có thể tự di chuyển được chút ít. Nếu như tay không di chuyển được trong vòng 6 tuần đầu thì hầu như sẽ không thể hồi phục được. Nên tập tay 3-6 giờ một ngày trong khoảng 3-6 tuần sau tai biến. Việc dùng điện châm có thể giúp cho bệnh nhân tăng được lực co cơ, hỗ trợ động tác duỗi và gấp tay. Tuy nhiên, nếu chỉ châm cứu đơn thuần thì khả năng cải thiện ít hơn.

Trong tai biến mạch máu não, liệt được chia ra liệt cứng và liệt mềm. Đa phần các bệnh nhân là liệt cứng, chỉ một số nhỏ bệnh nhân có liệt mềm. Những bệnh nhân liệt mềm thường bị tàn tật nhiều hơn do tay liệt mềm khó sử dụng được. Trong khi đó, những bệnh nhân liệt cứng có thể sử dụng được tay và chân nhiều hơn cho các động tác.

Từ đi bộ là mong muốn của tất cả các bệnh nhân tai biến mạch máu não.

Khi đang nằm viện, nếu bệnh nhân đã có thể co chân lại được, phải tập đi từng bước. Có thể cho tập đi từng đoạn ngắn dưới nạng hoặc được người trợ giúp. Để hồi phục khả năng đi bộ, thậm chí ngay cả đoạn ngắn, cần phải có tập luyện. Mỗi bệnh nhân phải có ít nhất 15 phút mỗi ngày tập cho đi bộ. Dù tập sau 3 tháng, thậm chí cả sau một năm thì vẫn có cải thiện rõ ràng. Tuy nhiên, nếu tập sớm thì sẽ hồi phục tốt hơn.

8. Phòng bệnh

Liệu pháp thay đổi lối sống:

–        Cai thuốc lá, có chế độ dinh dưỡng giàu vitamin, khoáng chất, hạn chế ăn quá nhiều chất béo và các thực phẩm giàu calo.

–        Tăng hoạt động thể lực sẽ làm cải thiện tình trạng tim mạch và làm cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch như rối loạn lipid máu, béo phì và tăng huyết áp, giảm nguy cơ mắc tai biến mạch máu não.

Phòng ngừa tình trạng đông máu bằng thuốc:

–        Tình trạng tăng đông có thể ảnh hưởng đến bệnh lý tim mạch. Điều trị bằng aspirin có lợi trong phòng ngừa tiên phát và thứ phát cho các bệnh nhân bị nhồi máu não.

–        Nếu bệnh nhân bị dị ứng với aspirin, các thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu khác như clopidogrel 75mg/ngày có thể được dùng thay thế ở các bệnh nhân có nguy cơ cao.

Điều trị rối loạn lipid máu:

–        Những người trên 45 tuổi cần được kiểm tra lipid máu định kỳ 6-12 tháng/lần.

–        Điều trị bằng thuốc phải kết hợp với liệu pháp thay đổi lối sống. Liều thuốc được tăng dần đến khi đạt được nồng độ LDL-C mục tiêu.

Kiểm soát trị số huyết áp:

–        Tăng huyết áp rất hay gặp ở người có tuổi. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ bị các biến chứng tim mạch (tai biến mạch máu não, bệnh động mạch vành và mạch máu ngoại biên).

–        Các nghiên cứu gần đây cho thấy việc quan trọng nhất trong điều trị tăng huyết áp là đạt được trị số huyết áp mục tiêu. Nguyên tắc sử dụng thuốc hạ áp là nên bắt đầu với một thuốc liều thấp hoặc phối hợp các nhóm thuốc với liều thấp để vừa đạt được hiệu quả điều trị vừa làm giảm tác dụng phụ.

Phòng ngừa cấp 1:

Kiểm soát các yếu tố nguy cơ; điều trị huyết áp, kiểm soát đường huyết, lipid máu; bỏ thuốc lá; dùng thuốc kháng đông trọn đời ở những người bị thấp tim hoặc mang van tim nhân tạo ở bên tim trái. Cân nhắc khả năng dùng thuốc kháng đông ở người bị rung nhĩ mạn tính. Tiến hành đặt stent động mạch cảnh khi hẹp trên 75%, hoặc mổ bóc nội mạc động mạch cảnh, nút coils phình mạch, nút ổ dị dạng động tĩnh mạch (AVM) để tránh nguy cơ nhồi máu não hoặc chảy máu não.
Phòng ngừa cấp 2:

Tiếp tục kiểm soát các yếu tố nguy cơ. Nếu là tắc mạch máu hoặc rung nhĩ mạn tính, có thể dùng aspirin hoặc wafarin. Tiến hành can thiệp mạch thần kinh khi có hẹp động trên 50%, hoặc phình động mạch não.

9. Một số thông tin hỏi đáp

Câu hỏi: Sau khi bị tai biến mạch máu não có dùng tam thất được không?

Trả lời: Nếu trong mạch máu hoặc trong tim đã có các cục máu đông, không nên dùng tam thất. Nếu dùng, cục máu này sẽ là trung tâm để kết tụ, làm cho cục máu to dần lên, ảnh hưởng đến sự lưu thông của mạch máu, đôi khi gây ra đột quỵ.

Câu hỏi: Các thể loại nhồi máu não?
Trả lời:

Có ba thể lâm sàng nhồi máu não sau :

1. Nhồi máu ổ khuyết

          Các cục tắc nhỏ, gây ra các ổ nhồi máu nhỏ . Các triệu chứng thường nhẹ, nghèo nàn nhưng rất khu trú. Có các thể sau :

          1.Đột qụy vận động đơn thuần

          2. HC liệt thất điều ½  người và rối loạn (RL) ngôn ngữ – bàn tay vụng về                              

          3. Thể cảm giác đơn thuần.

          4. Thể vận động – cảm giác

          5. Các hội chứng lỗ khuyết khác

             + Các HC thân não

             + Các hội chứng (HC)  bán cầu: Nhân đuôi: lú lẫn, RL hành vi, vô tình cảm…Nhân đậu: RL tâm thần (vô tình cảm, thất điều, các RL chức năng thùy trán). Đồi thị: RL tâm thần (RL  ngôn ngữ, rối loạn trí nhớ).

2. Huyết khối động mạch (ĐM) não

          * Giai đoạn tiền triệu: có hay không có  triệu chứng tiền báo (TIAs). Các triệu chứng của cơn thoáng báo rất quan trọng để chẩn đoán định khu. Cơn thoáng báo mô não tổn thương thuộc phân bố của :

            + ĐM cảnh: mù một mắt, liệt và RL cảm giác ½  người, RL ngôn ngữ…

            + Ở hệ ĐM sống – nền:  chóng mặt, nhìn đôi, nhìn mờ, nói khó, tê…

          *  Đặc điểm khởi phát: đột ngột, thường vào ban đêm hoặc sáng sớm. Sau đó tăng nặng dần.                                               

          * Các triệu chứng não chung: đau đầu, co giật, nôn (ít gặp), rối loạn ý thức nhẹ. Hôn mê  khi có nhồi máu diện rộng ở bán cầu hoặc ở khu vực dưới lều tiểu não. Bệnh nặng : RL cơ vòng (đại tiểu tiện bí hoặc không tự chủ), RL thực vật.

          * Các triệu chứng thần kinh khu trú

          Phụ thuộc vào vị trí và ĐM bị tổn thương. Cục tắc lớn gây tắc ĐM cảnh trong hay ĐM não giữa; Cục nhỏ thường gây tắc các nhánh xiên, nhánh nhỏ của ĐM não giữa.

          Các biểu hiện lâm sàng định khu tổn thương nhồi máu não tại các vị trí  :

             + Bán cầu não: liệt, RL cảm giác ½  người, liệt dây VII ( đối bên). RL tâm thần (dễ xúc động, dễ cười, dễ khóc và trầm cảm).Tổn thương bán cầu trái (T) : có rối loạn ngôn ngữ, liệt 1/2 người (P) và liệt dây VII (P)                                                                        

             + Bán cầu trội : RL ngôn ngữ kiểu vận động hoặc kiểu giác quan khi có

             + Tiểu não: RL chức năng tiểu não) 

             + Hệ sống – nền: chóng mặt, nhìn mờ, nhìn đôi, nói khó, RL phối hợp vận động                                                                            

             + Vùng vỏ não thị giác, có triệu chứng bán manh. ( tắc ĐM não sau)                                                                                              

             + Nửa thân não:  có hội chứng giao bên.                                                                                                                                       

             + Hệ cảnh: mù 1 mắt, liệt, RL cảm giác nửa người, RL ngôn ngữ…

3. Tắc mạch não: Bệnh khởi phát đột ngột và thường liên quan tới gắng sức hoặc stress , biểu hiện :

          * Các triệu chứng não chung: 

             + RL ý thức: tùy theo vị trí và đường kính cục tắc, có thể rối loạn ý thức nhẹ hoặc hôn mê.

             + RL cơ vòng. Co giật toàn thân nếu tắc các nhánh nhỏ ở vỏ não.                                                                                                               

          * Các triệu chứng thần kinh khu trú: giống như trong huyết khối ĐM não. Phụ thuộc vào vị trí và các ĐM  tổn thương.

             + Cục tắc lớn gây tắc ĐM  cảnh trong hay ĐM  não giữa;

             + Cục nhỏ thường gây tắc các nhánh xiên, nhánh nhỏ của ĐM  não giữa: RL ngôn ngữ vận động, liệt chân hay tay đơn độc hoặc chỉ RL ngôn ngữ nhẹ.

             + Tắc mạch ở tiểu não hay thân não: RL chức năng tiểu não hay HC  giao bên.

             + Cục tắc ở ĐM não sau gây bán manh.

             + Đột qụy vận động đơn thuần (pure motor stroke ) HC liệt thất điều ½ người và RL ngôn ngữ – bàn tay vụng về (ataxic hemiparesis and dysarthria – clumsy hand syndrome) do tổn thương tháp và tiểu não ( cùng bên).

             + Đột qụy cảm giác đơn thuần.

             + Đột quỵ vận động – cảm giác.

Đặt khám dễ dàng cùng BookingDoctor

Đặt Lịch Phẫu Thuật Tất Cả Chuyên Khoa – Chọn Bác Sĩ Theo Yêu Cầu

Đặt lịch phẫu thuật nhanh – chọn bác sĩ theo yêu cầu
👉 Hỗ trợ tại Lạc Việt & kết nối bác sĩ từ Bạch Mai, Việt Đức, 108, Đại học Y, Nội tiết TW, BV K

Hà Nội
Chọn và đặt (miễn phí)

Địa chỉ Khám

Bệnh viện Quốc tế Thăng Long Lạc Việt
Số 9 Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

ThS.BS Nội trú ĐẶNG THỊ HỒNG ÁNH

Chuyên khoa Tai – Mũi – Họng

ThS.BS Nội trú Đặng Thị Hồng Ánh là bác sĩ trẻ, chuyên môn vững vàng trong lĩnh vực Tai – Mũi – Họng, hiện đang công tác tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương – một trong những đơn vị đầu ngành về chuyên khoa này tại Việt Nam.

Bác sĩ có kinh nghiệm thực tế trong khám và xử trí các bệnh lý cấp cứu Tai – Mũi – Họng, đồng thời đang tham gia khám và điều trị tại các cơ sở y tế uy tín.

Hà Nội

Đặt lịch khám

Chọn và đặt (miễn phí)

Địa chỉ Khám

Bệnh viện Quốc tế Thăng Long Lạc Việt
Số 9 Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

PGS.TS.BS TRẦN HOÀNG THÀNH

Chuyên gia Nội tổng hợp – Hô hấp – Tim mạch

PGS.TS.BS Trần Hoàng Thành là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Hô hấp, Tim mạch và Nội tổng hợp, với hơn 45 năm kinh nghiệm trong khám và điều trị bệnh lý nội khoa.

Bác sĩ từng công tác tại các đơn vị đầu ngành như Trung tâm Hô hấp và Khoa Tim mạch – Bệnh viện Bạch Mai, đồng thời là Giảng viên cao cấp tại Đại học Y Hà Nội. Đây đều là những môi trường chuyên sâu, giúp bác sĩ có nền tảng chuyên môn vững vàng và kinh nghiệm lâm sàng phong phú.

Hà Nội

Đặt lịch khám

Chọn và đặt (miễn phí)

Địa chỉ Khám

Bệnh viện Quốc tế Thăng Long Lạc Việt
Số 9 Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

GS.TS.BS CAO CẤP LÊ VĂN THÍNH

Chuyên gia Nội thần kinh đầu ngành | Hơn 35 năm kinh nghiệm

Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ cao cấp Lê Văn Thính là một trong những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Nội thần kinh tại Việt Nam, với hơn 35 năm kinh nghiệm khám, điều trị và nghiên cứu chuyên sâu các bệnh lý thần kinh.

Hiện bác sĩ đang tham gia khám và điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Lạc Việt.

Hà Nội

Đặt lịch khám

Chọn và đặt (miễn phí)

Địa chỉ Khám

Bệnh viện Quốc tế Thăng Long Lạc Việt
Số 9 Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

PGS.TS.BS BÙI VĂN MẠNH

Thầy thuốc ưu tú | Chuyên gia Nội thận – Hồi sức cấp cứu | Hơn 35 năm kinh nghiệm

Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc ưu tú Bùi Văn Mạnh là chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực Nội thận – Lọc máu – Hồi sức cấp cứu – Ghép tạng, với hơn 35 năm kinh nghiệm điều trị, nghiên cứu và giảng dạy.

Hà Nội

Đặt lịch khám

Chọn và đặt (miễn phí)

Địa chỉ Khám

Bệnh viện Quốc tế Thăng Long Lạc Việt
Số 9 Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

TS.BS NGUYỄN VĂN ĐỊNH

Chuyên gia Ung bướu – Ung thư Vú | Hơn 35 năm kinh nghiệm

Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Văn Định là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Ung bướu, đặc biệt chuyên sâu về Ung thư Vú, với hơn 35 năm kinh nghiệm khám, điều trị và phẫu thuật.

Hà Nội

Đặt lịch khám

Chọn và đặt (miễn phí)

Địa chỉ Khám

Bệnh viện Quốc tế Thăng Long Lạc Việt
Số 9 Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Đặt khám dễ dàng cùng Bookingdotor

TS.BSCC NGÔ THỊ PHƯỢNG

Chuyên gia đầu ngành Nội tiết – gần 40 năm kinh nghiệm

TS.BSCC Ngô Thị Phương là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Nội tiết – chuyển hóa, với gần 40 năm kinh nghiệm trong khám và điều trị các bệnh lý nội khoa phức tạp.

Bác sĩ từng giữ chức vụ Chủ nhiệm Khoa Nội tiết – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, đồng thời tham gia nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học chuyên sâu, đóng góp lớn cho ngành Nội tiết tại Việt Nam.

Hiện nay, bác sĩ đang tham gia khám và điều trị tại Bệnh viện Quốc tế Thăng Long Lạc Việt.

Hà Nội

Lịch Tư vấn qua video

Chọn và đặt (miễn phí)

Địa chỉ Khám

Bệnh viện Quốc tế Thăng Long Lạc Việt
Số 9 Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Bài viết liên quan


    • Đặt lịch khám

      Chúng tôi sẽ liên hệ với bạn ngay sau khi bạn đặt lịch phẫu thuật

    • 02473011881
      Let's Chat

      Let's Chat

      Liên hệ với mình nếu bạn cần hỗ trợ