Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
I. Khái niệm:
1. Thế nào gọi là ung thư :
Cơ thể còn người được tạo nên từ các tế bào. Tế bào ở các cơ quan khác nhau của cơ thể có thể có hình dạng khác nhau, cách làm việc khác nhau, nhưng đều có chung cơ chế nhân bản. Tế bào cũng có tuổi thọ, già, rồi chết, và những tế bào mới được sinh ra để thay thế. Bình thường, sự phân chia nhân bản tế bào được kiểm soát một cách có hệ thống.
Nhưng nếu quá trình nhân bản này vượt ra ngoài sự kiểm soát vì một lý do nào đấy, các tế bào sẽ phân chia liên tục và tạo ra một khối thường gọi là khôi u. Các khối u có thể là lành tính, hoặc ác tình. Ung thư là tên gọi của các khối u ác tính.
Nếu khối u lành tính không di căn sang các cơ quan khác của cơ thế, thì đó không phải là ung thư. Tuy nhiên, nếu khối u lành tính phát triển tại chỗ quá mạnh, nó có thể chèn ép lên các cơ quan khác, và gây ra các vấn đề nghiêm trọng.
Xin chú ý rằng: UNG THƯ chỉ là khái niệm chung, không phải chỉ là MỘT loại bệnh lý duy nhất với một cách chữa duy nhất. Ung thư có trên 200 loại, và mỗi loại có một tên riêng, như ung thư phổi, ung thư gan, vv… và mỗi loại ung thư có những phương pháp điều trị chuyên biệt!
2. Các loại ung thư :
Về đại cương, có thể chia căn bệnh ung thư ra làm mấy loại chính:
Ung thư biểu mô (Carcinomas): Chiếm khoảng 85%. Chúng bắt đầu từ những lớp biểu mô, thường là lớp mô bao quanh các cơ quan, hoặc chính là lớp da của cơ thể. Ung thư biểu mô thường di căn sớm tới các hạch khu vực. Một số ung thư phổ biến nhất là: ung thư biểu mô tế bào đáy, ung thư biểu mô tế bào vảy, ung thư biểu mô tế bào thận, ung thư biểu mô tế bào nhỏ, ung thư biểu mô cổ tử cung, ung thư biểu mô tế bào gan, ung thư biểu mô ống động mạch, ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp, VA nang ung thư biểu mô, ung thư biểu mô tế bào Merkel, ung thư biểu mô thần kinh nội tiết…
Ung thư mô liên kết (Sarcomas): Loại ung thư này hình thành trong những mô liên kết của cơ thể, như bắp thịt, xương, và các mô mỡ. Chúng chiếm tỷ lệ khoảng 6%.
Ung thư bạch cầu (Leukaemias/Lymphomas): Thường xuất hiện ở những mô chứa bạch cầu (lực lượng chống nhiễm trùng của cơ thể), thí dụ như tủy xương, hệ thống hạch bạch cầu. Loại ung thư này chiếm khoảng 5% trong các loại bệnh ung thư.
Các loại khác: Ung thư não và các dạng ung thư hiếm gặp khác chiếm tỷ lệ tổng cộng khoảng 4% trong các loại ung thư.
3. Ai có thể bị Ung thư :
Ung thư là một căn bệnh đáng sợ, nó không loại trừ lứa tuổi nào. Nhưng người cao tuổi ( ngoài 60) có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn hết.
Ung thư cũng có mức độ phổ biến khác nhau. Những con số thống kê mới nhất ở Anh cho thấy loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới là ung thư phổi (19%), tiếp theo là ung thư tiền liệt tuyến (17%), ung thư ruột già (14%) và ung thư bàng quang (7%). Đối với phụ nữ, các con số lần lượt là ung thư vú (29%), ung thư ruột già (12%), ung thư phổi (11%), và ung thư buồng trứng (5%).
II. Các nguyên nhân chính gây ung thư : ( dựa trên số liệu nghiên cứu trong báo cáo mang tên The Cancer Altas của Hiệp hội Ung thư Mỹ (ACS).
1. Do chế độ ăn uống nghèo nàn, suy dinh dưỡng (30%)
Nguyên nhân do chế độ ăn uống nghèo nàn suy dinh dưỡng chiếm 30% trong tổng số các nguyên nhân gây bệnh ung thư. Theo nghiên cứu, phần lớn các loại bệnh ung thư đều có liên quan đến khuyết tật gen làm nhiệm vụ kiểm soát, phân chia và quá trình chết đi của tế bào. Thực tế, rất nhiều bất thường làm tăng bệnh không do di truyền mà thay vào đó là làm tổn thương gen (gọi là đột biến), quá trình này phát triển âm ỉ trong cả cuộc đời của con người. Quá trình gây tổn thương rất đa dạng, trong đó có cả những yếu tố nội bộ như tác động cả các loại hoóc-môn, của quá trình chuyển hóa dưỡng chất bên trong tế bào hoặc do các yếu tố khách quan như khói thuốc lá, hóa chất và ánh nắng mặt trời. Các đột biến phi di truyền này gọi là đột biến tế bào dinh dưỡng. Có khoảng 5 – 10% tổng số các ca ung thư là do di truyền, có nghĩa là những người được kế thừa một biến thể di truyền đặc biệt từ cha mẹ, ông bà nên có rủi ro mắc phải một căn bệnh ung thư nhất định rất cao. Ngoài ra, khoa học cũng đã nghiên cứu và thấy có rất nhiều dạng ung thư là do kết hợp giữa yếu tố di truyền lẫn tác động của môi trường nên rủi ro tăng bệnh rất tiềm ẩn.
2. Do thuốc lá (chiếm 16%)
Theo số liệu thống kê, số ca tử vong vì ung thư phổi trên thế giới ngày càng tăng. Chỉ riêng năm 2008 cả thế giới có 1,61 triệu ca ung thư phổi mới phát hiện, chiếm 12,7% trong tổng số những ca ung thư mới được phát hiện.
Đối với phụ nữ, nguy cơ ung thư phổi nói chung là thấp (xếp hàng thứ 4) và tỉ lệ tử vong ở phụ nữ (513.000 ca/năm), khoảng 8,5% trong tổng số các ca ung thư phát hiện mới hàng năm. Nơi có tỉ lệ tử vong cao nhất vì ung thư phổi ở phụ nữ hiện nay là Bắc Mỹ và thấp nhất là Trung Phi.
3. Viêm nhiễm bộ phận sinh dục (37%):
Ví dụ: việc viêm nhiễm phụ khoa là nguyên nhân gây bệnh ung thư cổ tử cung và ung thư hệ thống sinh sản rất cao. Theo thống kê, có tới trên 80% số phụ nữ bị viêm nhiễm đường sinh dục, nhẹ thì ra khí hư trong kỳ hành kinh, ngứa ngáy, nặng thì viêm nhiễm vùng chậu và tắc vòi trứng dẫn đến vô sinh, ung thư tử cung. Đây là căn bệnh xếp hàng thứ 3 sau ung thư vú và dạ dày ở phụ nữ.
4. Do bệnh nghề nghiệp (5%)
Những người làm việc trong môi trường độc hại, phơi nhiễm các chất độc hại là nhóm người có tỉ lệ mắc bệnh ung thư rất cao. Theo nghiên cứu tổ chức y tế nghề nghiệp GLOBOCAN, hàng năm có tới 13 triệu người bệnh ung thư nghề nghiệp mới được phát hiện và hàng năm có gần 8 triệu ca tử vong vì căn bệnh này trên quy mô toàn cầu, trong đó có bệnh ung thư cổ tử cung và ung thư gan, tuyến tiền liệt, ung thư kết tràng, ung thư bàng quang và ung thư máu chiếm tỉ lệ lớn. Môi chất gây ung thư có benzen, ocid ethylene, phóng xạ ion hóa, benzidine, berili và hợp chất bischloromethylether (BCME), chloromethyl, methylether, catmi, bột tan chứa sợi amiăng, hợp chất crôm, dầu hắc in từ nhựa than đá và vinylchloride. Những nghề thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại, công nhân nhà máy sản xuất ôtô, tiếp xúc hóa chất thuốc trừ sâu dùng trong nông nghiệp, sản xuất sơn, amiăng, thậm chí cả nghề bác sĩ tiếp xúc nhiều môi chất gây bệnh cũng có tỉ lệ mắc bệnh cũng rất cao.
5. Do ô nhiễm môi trường (12%)
Theo ACS, ung thư do ô nhiễm môi trường chiếm khoảng 12% trong tổng số những nguyên nhân gây ung thư. Rất đa dạng như do ô nhiễm nguồn không khí, nguồn nước, do thực phẩm, do các đồ dùng dân dụng, chảo chống dính, mỹ phẩm làm đẹp…
Một trong những nguyên nhân hàng đầu là ô nhiễm không khí của các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, do phương tiện giao thông thải ra ngoài môi trường ngấm vào nguồn nước, vào cá và sau đó đi vào cơ thể con người. Do con người dùng các loại nguyên liệu hóa thạch, kể cả trong công nghiệp, trong dân sinh, như đốt than đã làm cho không khí ô nhiễm, tăng bệnh đường hô hấp, làm chậm sự phát triển thai nhi, làm cho hệ thống thần kinh trẻ chậm phát triển thậm chí nó còn gây bệnh cho cả động vật, gây bất ổn xã hội và làm gia tăng nhiều căn bệnh lạ. Riêng ung thư vú, ung thư phổi được xem là gánh nặng cho ngành y vì nạn ô nhiễm ngày càng tăng nhanh.
III. Phương pháp chữa trị :
1. Quan sát tích cực: Có một vài loại ung thư phát triển rất chậm, và không phải là vấn đề đối với người bệnh trong nhiều năm trời. Trong trường hợp này, bạn có thể không cần điều trị trong một khoảng thời gian nào đó, nhưng bác sỹ sẽ theo dõi bạn một cách chặt chẽ, và sẽ tiến hành điều trị nếu phát hiện thấy dấu hiệu phát triển của ung thư.
2. Phẫu trị (mổ): Bác sỹ sẽ tiến hành mổ cắt khối u. Mổ thường được áp dụng khi khối u mới phát triển tại một vùng nào đó của cơ thể, chưa lây lan. Phẫu trị có thể dùng để cắt các hạch bạch cầu, nếu như chúng bị ảnh hưởng bới tế bào ung thư. Cũng có khi người ta mổ cả trong trường hợp khối u đã di căn, nhưng rất hiếm.
5.3. Xạ trị: Phương pháp này thường dùng những tia X có năng lượng cao để phá huỷ các tế bào ung thư, nhưng chắc chắn cũng sẽ ảnh hưởng tới những tế bào lành xung quanh. Thường, tia xạ được tính toán rất cẩn thận để nhắm vào những vùng bị nhiễm ung thư. Xạ trị có phản ứng phụ, hay gặp nhất, là sự mệt mỏi. Phản ứng phụ xảy ra phụ thuộc chủ yếu vào vùng đang được điều trị của cơ thể
4. Hóa trị: Phương pháp này thường dùng những thuốc chống ung thư để tiêu diệt các tế bào ác tính. Có khoảng hơn 50 loại thuốc hóa trị. Đôi khi, chúng có dạng thuốc viên, uống. Nhưng phần lớn, các thuốc hóa trị được truyền qua ven. Hóa chất sẽ đi theo máu, và tiêu diệt bất kỳ tế bào ung thư nào chúng gặp. Có lúc, người ta dùng một loại hóa chất. Nhưng đa số, người ta dùng kết hợp hai, ba, hoặc thậm chí hơn nữa các loại thuốc hóa trị với nhau.
Hóa trị thường có phản ứng phụ. Phản ứng phụ sẽ phụ thuộc vào loại thuốc (hoặc tổ hợp thuốc) được dùng. Ngày nay, y học đã có khá nhiều phương pháp rất hiệu quả để phòng chống, hoặc làm giảm phản ứng phụ của hóa trị.
5. Điều trị nội tiết: Cơ chế của điều trị nội tiết là thay đổi một số nội tiết tố trong cơ thể. Một vài loại ung thư bị phụ thuộc vào một số nội tiết tố để có thể phân chia và phát triển. Bằng cách thay đổi lượng nội tiết tố này, hoặc tìm cách ngăn chặn sự hấp thụ nội tiết tố của các tế bào ung thư, căn bệnh ung thư trở thành có thể kiểm soát được.
Các phương pháp khác
Có thể dùng một số phương pháp khác để chữa trị, hoặc kiểm soát ung thư. Những phương pháp này thường dùng những hóa chất dùng để kích thích hệ miễn dịch của cơ thể để tấn công các tế bào ung thư. Những phương pháp này thuộc dòng Sinh trị và thường có hai loại: interferon và interleukin.
Ngoài ra, còn có các loại thuốc được xếp vào loại “kháng thể đơn dòng”, có khả năng “nhận biết” và tìm kiếm những loại tế bào cụ thể trong cơ thể. Các loại thuốc này có thể được thiết kế để tìm kiếm những tế bào ung thư, xâm nhập vào, và tiêu diệt chúng. Các loại thuốc kháng thể này có thể sử dụng đơn lẻ, hoặc kết hợp với các phân tử phóng xạ để tìm tới các tế bào ung thư, và diệt chúng bằng chính chất phóng xạ nói trên.
IV. Chế độ dinh dưỡng: Khoảng 36% trường hợp ung thư do ăn uống gây ra. Vì vậy, việc điều chỉnh chế độ ăn có thể làm giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh này. Ngoài việc chọn thức ăn hợp lý, phải hạn chế rượu, thuốc lá và các phụ gia thực phẩm vì chúng là nguyên nhân của 34% số ca ung thư.
1. Nguyên tắc dinh dưỡng phòng ngừa ung thư:
– Ăn đa dạng: Ăn nhiều món trong một bữa, cần đưa vào cơ thể trên 20 loại thực phẩm mỗi ngày để cung cấp đủ 40 chất dinh dưỡng thiết yếu. Thay đổi món ăn trong ngày, giữa các ngày, theo mùa.
– Ăn chừng mực: Không ăn quá no, không để quá đói và không ăn quá nhiều một loại thức ăn. Mỗi ngày, một người cần 50-100 g thịt (hoặc một lượng cá tương tự), rau 300 g, trái cây 200 g, đậu đỗ 50 g.
– Ăn những thứ nguyên vẹn, gần với thiên nhiên: Những thức ăn gần với thiên nhiên, ít qua chế biến sẽ ít mất các thành phần dinh dưỡng.
2. Chế độ dinh dưỡng khi đã mắc ung thư: Người bệnh cần tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị về chế độ ăn uống vì điều này phụ thuộc vào loại ung thư, giai đoạn của bệnh, phác đồ điều trị và thể trạng của người bệnh.
Nguyên tắc chung:
– Chọn thực phẩm dễ tiêu, hợp khẩu vị, chia nhỏ và ăn thành nhiều bữa nhằm bảo đảm cung cấp đủ năng lượng và chất dinh dưỡng cho cơ thể để duy trì được cân nặng và khối cơ bắp.
– Do khả năng tiêu hóa và hấp thu cao hơn vào ban ngày, nên cần tăng lượng ăn vào buổi sáng và trưa, hơn là vào buổi tối.
– Khẩu phần cần tăng protein so với bình thường, trứng, cá, thịt gà, vịt là những nguồn cung cấp protein tốt cho bệnh nhân ung thư.
– Để bù nước do thay đổi mức chuyển hóa trong cơ thể, cũng như để làm giảm tác dụng phụ của thuốc điều trị ung thư, người bệnh cần uống đủ nước.
– Trong một số trường hợp, nếu người bệnh hoặc do khối u chèn ép, hoặc do tâm lý… không thể ăn bình thường, có thể áp dụng phương pháp nuôi dưỡng qua ống sông hoặc bằng đường tĩnh mạch. Trong những trường hợp này, vẫn cần bảo đảm cung cấp đủ chất dinh dưỡng như chất đạm, chất béo, đường bột, vitamin và muối khoáng.
– Trong giai đoạn bệnh đã ổn định, chế độ ăn vẫn cần được cung cấp đủ năng lượng và chất dinh dưỡng để bảo đảm nâng cao sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng. Cần ăn nhiều hoa quả, nhất là đu đủ, dứa, tỏi, rau xanh. Ngoài ra cũng có thể sử dụng vitamin tổng hợp hoặc chất khoáng hằng ngày với liều nhỏ.
– Nên chế biến thực phẩm bằng phương pháp luộc, hấp nhỏ lửa, không dùng các cách chế biến như nướng, hun khói, rán, tẩm ướp đường vào thịt khi chế biến.
Những hướng dẫn hiện nay đối với việc nâng cao sức khoẻ tổng quát bao gồm:
– Ăn những thức ăn giàu dinh dưỡng với lượng calori hạn chế.
– Duy trì cân nặng của cơ thể khoẻ mạnh.
– Tập thể dục thường xuyên.
– Ăn nhiều loại trái cây, rau củ, ngũ cốc và các sản phẩm bơ sữa ít chất béo mỗi ngày.
– Ít ăn chất béo và tránh axít béo.
– Thường xuyên chọn những loại trái cây giàu chất xơ, rau củ và ngũ cốc.
– Ăn ít thức ăn có lượng muối cao. Chọn nhiều thực phẩm chứa nhiều kali (như chuối, rau bina và khoai tây).
– Những ai thích những thức uống có chứa cồn nên uống điều độ Một số bệnh nhân hoàn toàn không sử dụng thức uống có cồn.
– Giữ cho thực phẩm an toàn khi chế biến, trữ và ăn uống.
Những bất lợi thường gặp do ung thư và bản thân của quá trình điều trị gây nên có thể kể đến:
|
– Biếng ăn – Thay đổi khẩu vị – Khô miệng – Đau và nhiễm trùng miệng, hầu họng – Buồn nôn – nôn |
– Tiêu chảy – Bạch cầu giảm trong máu – Vấn đề nước uống Táo bón |
2.1 Biếng ăn:
Biếng ăn là một trong những vấn đề thường gặp nhất ở những bệnh nhân ung thư hoặc đang được điều trị ung thư. Trầm cảm, nỗi sợ hãi cũng làm cho người bệnh mất ngon miệng. Đôi khi, những tác dụng phụ của quá trình điều trị như buồn nôn, nôn, những thay đổi về khẩu vị cũng góp phần làm cho bệnh nhân càng không thích ăn. Đối với một số người, biếng ăn chỉ kéo dài trong vài ngày. Ở những người khác, biếng ăn có thể kéo dài lâu hơn. Dù với bất kỳ lý do gì, một số gợi ý sau đây có thể giúp cải thiện tình trạng trên:
– Ăn chế độ ăn giàu năng lượng, giàu đạm, nhiều bữa nhỏ trong ngày thay vì 3 bữa ăn lớn chính. Cách ăn này giúp người bệnh có thể ăn nhiều hơn nhưng không gây đầy bụng.
– Bổ sung thêm năng lượng và đạm vào thực phẩm (bơ, sữa bột, mật ong, đường đen…).
– Bổ sung nước uống (những thức uống đặc biệt có chứa dưỡng chất), canh súp, sữa, nước ép (trái cây, rau, thịt), thức ăn nghiền, trộn, xay nhuyễn… (trong trường hợp bệnh nhân khó ăn được những thức ăn rắn).
– Chuẩn bị và dự trữ thực phẩm hợp khẩu vị nhằm tiện sử dỤng mọi lúc mọi nơi một cách dễ dàng mỗi khi đói (phômai, bánh quy dòn, nho khô…)
– Buổi sáng phải là buổi ăn chính, chiếm 1/3 tổng năng lượng và lượng đạm nhập cho suốt một ngày.
– Ăn những thực phẩm hương vị thơm ngon hấp dẫn. Nếu bệnh nhân bị dị ứng với những thực phẩm nặng mùi, nên sử dụng bếp có quạt hút mùi, nấu ăn ngoài trời, sử dụng thực phẩm nguội thay cho nóng (vì thức ăn đang nóng, thực phẩm sẽ có mùi rất mạnh), mở nắp xoong nồi thức ăn cho giảm bớt mùi trước khi mang thức ăn vào phòng cho bệnh nhân. Sử dụng quạt để xua bớt mùi thức ăn quanh người bệnh.
– Sáng tạo đổi món, đa dạng hóa thức ăn và món tráng miệng.
– Thời gian lúc ăn phải thư giãn, vui vẻ, buổi ăn cần được trình bày thật hấp dẫn.
– Thể dục, vận động thường xuyên sẽ giúp ngon miệng hơn. Cần gặp bác sĩ để biết được loại hình vận động nào phù hợp với chính bản thân mình.
2.2 Thay đổi khẩu vị:
Điều này có thể xảy ra trong suốt thời gian bệnh và điều trị. Thực phẩm đặc biệt là thịt hoặc những thực phẩm có hàm lượng cao thường gây cho bệnh nhân có cảm giác đắng hoặc có mùi tanh. Ở hầu hết bệnh nhân, những vấn đề về thay đổi khẩu vị sẽ biến mất sau khi chấm dứt điều trị. Không có một phương pháp cụ thể nào nhằm ngăn ngừa vấn đề thay đổi khẩu vị bởi lẽ mỗi người bệnh sẽ có những ảnh hưởng khác nhau do căn bệnh và liệu pháp điều trị. Tuy nhiên, một số phương pháp sau đây có thể giúp người bệnh giảm thiểu được tình trạng khó chịu nêu trên (những phương pháp sau đây chỉ dành cho những bệnh nhân không có tình trạng đau hoặc bị thương tổn ở răng miệng hầu họng, nếu có những vấn đề này cần gặp bác sĩ chuyên khoa trước khi áp dụng…)
– Súc miệng với nước sạch trước khi ăn.
– Thử ăn những loại trái cây có vị chua (cam, quýt, chanh, bưởi…) ngoại trừ trường hợp những bệnh nhân đang bị tổn thương đau ở miệng, hầu họng.
– Ăn bữa ăn nhỏ nhiều lần trong ngày.
– Sử dụng đồ đựng thực phẩm bằng mủ (nhựa) thay vì kim loại đối với những bệnh nhân nào dị ứng với vị tanh.
– Tăng cường ăn những thức ăn khoái khẩu (nếu phù hợp)
– Sử dụng thịt gia cầm (thịt gà, vịt bỏ da), cá, trứng, phô mai thay cho thịt đỏ (thịt bò…)
– Tăng chế độ giàu đạm bằng cách sử dụng đạm thực vật như trong chế độ ăn chay.
– Nếu miệng có vị tanh hoặc đắng hãy thử nếm một vài giọt chanh (cam, quýt, bưởi…) hoặc tinh chất bạc hà.
– Thêm gia vị và nước xốt vào thức ăn.
– Chú ý trong quá trình xạ trị ở vùng đầu, cổ nên bổ sung thêm viên kẽm sulfate có thể giúp khắc phục tình trạng tanh miệng bất thường nhanh chóng.
2.3 Khô miệng:
Hóa trị liệu hoặc xạ trị ở vùng đầu, cổ… có thể gây ra sự giảm tiết nước bọt và dẫn đến khô miệng rất khó chịu. Khi gặp phải điều này, thức ăn đối với bệnh nhân sẽ trở nên cứng hơn, khó nhai và khó nuốt. Khô miệng góp phần làm tình trạng chán ăn càng trầm trọng. Trong trường hợp này, cần lưu ý:
– Nên ăn thức ăn mềm xay nhuyễn, hoặc chế biến nhiều nước như xốt, nước thịt, xà lách trộn…
– Có thể nhai kẹo hơi cứng hoặc nhai chewgum nhằm tăng tiết nước bọt nhiều hơn.
– Sử dụng đồ tráng miệng ướp lạnh.
– Vệ sinh răng miệng (kể cả răng giả) và súc miệng tối thiểu 4 lần 1 ngày (sau mỗi bữa ăn và trước lúc đi ngủ).
– Uống từng ngụm nước, hoặc nước canh sau mỗi vài phút để giúp nuốt dễ dàng hơn. Nhớ đem theo nước uống khi ra khỏi nhà để tiện sử dụng mọi lúc mọi nơi.
– Thử sử dụng một số thức ăn đồ uống chua (không nên thực hiện điều này nếu bệnh nhân đang có những vết thương gây đau ở vùng hầu họng) nhằm giúp tăng tiết nước bọt.
– Tránh các thức ăn đồ uống chứa nhiều đường.
– Tránh súc miệng bằng những dung dịch có chứa cồn.
– Luôn giữ ẩm cho đôi môi bằng vaselin thoa môi.
– Nếu tình trạng khô miệng trở nên trầm trọng, cần gặp bác sĩ chuyên khoa.
2.4 Đau và nhiễm trùng miệng, hầu họng:
Đau họng, miệng, lợi răng sưng, ấn đau… thường hay gặp ở những bệnh nhân ung thư đang phải chịu xạ trị, hóa trị liệu hoặc đang có những vấn đề nhiễm trùng. Khi thấy đau răng miệng, đầu tiên nên gặp bác sĩ chuyên khoa để đảm bảo chắc chắn rằng vấn đề đau ở đây là do tác dụng phụ của liệu pháp điều trị chứ không phải do các bệnh răng miệng gây ra.
Một số thực phẩm nhất định có thể kích thích nhiều hơn tình trạng răng miệng của chúng ta do gia vị cay nồng, cứng quá khó nuốt, do đó cần phải biết lựa chọn thực phẩm. Nên ăn những thực phẩm mềm, dễ dàng nhai và nuốt:
– Trái cây mềm (chuối, dưa hấu…)
– Phô mai
– Khoai tây nghiền
– Mỳ sợi, nui, bún, phở
– Sữa, bột ngũ cốc khuấy
– Tránh những thức ăn khô, thô, cứng (rau sống, bánh mỳ nướng, bánh quy giòn…)
– Tránh thức ăn cay, mặn.
– Tránh trái cây và nước quả có vị chua (cam, quýt, bưởi…)
– Nấu thức ăn cho đến khi thật mềm, chín tới.
– Thực phẩm nên cắt nhỏ
– Ăn thực phẩm lạnh hoặc để nguội bằng nhiệt độ phòng
– Chà (đánh) răng (kể cả răng giả). Súc miệng ít nhất 4 lần trong ngày.
2.5 Buồn nôn – nôn:
– Nên ăn trước khi đói thực sự vì cơn đói làm tăng cảm giác buồn nôn mạnh hơn.
– Uống ít nước trong khi ăn tránh gây tăng cảm giác đầy bụng, óc ách dễ nôn. Tốt nhất là uống chậm, nhiều hớp có thể suốt ngày. Sử dụng ống hút rất hữu ích.
– Tránh những thức ăn dầu mỡ, cay nồng, nặng mùi…
– Ăn thành nhiều bữa nhỏ trong ngày.
– Ăn những thực phẩm khô như bánh quy giòn, bánh mì nướng rải đều trong ngày.
– Nên ngồi hoặc nằm tư thế nữa nằm nữa ngồi sau khi ăn khoảng 1 tiếng.
– Tránh ăn uống những thực phẩm đậm mùi trong phòng kín. Đừng ép mình phải ăn một thực phẩm đã từng ưa thích nào đó khi đã buồn nôn, vì điều này có thể làm cho người bệnh ghét thực phẩm đó vĩnh viễn.
– Không gian sống phải thoáng, không khí trong lành.
– Nếu tình trạng buồn nôn xảy ra trong suốt thời gian xạ trị hoặc hóa liệu pháp, bệnh nhân cần tránh ăn trước khi điều trị khoảng 1-2 tiếng đồng hồ.
– Mặc áo quần thích hợp, rộng rãi.
2.6 Bạch cầu trong máu giảm:
– Chú ý không nên mua và sử dụng những thực phẩm quá hạn sử dụng.
– Không mua đồ hộp sưng phồng móp méo.
– Thực phẩm xả đông cần phải được nấu, chế biến ngay sau đó.
– Tất cả thức ăn còn dư phải được ướp lạnh bảo quản và cần phải được tiêu thụ trong vòng 24 tiếng.
– Không sử dụng trái cây, rau quả đã bị cũ, mốc meo hoặc bầm dập.
– Nấu chín tất cả thịt, cá. Tránh ăn trứng sống hoặc cá sống.
– Mua thực phẩm với số lượng đã được tính toán kỹ để tránh dư thưa, hết hạn hoặc không đảm bảo được vấn đề bảo quản tốt.
– Tránh tiếp xúc nhiều, thường xuyên với cộng đồng người bệnh.
– Rửa tay thường xuyên nhằm hạn chế lây truyền mầm bệnh.
2.7 Vấn đề nước uống:
– Uống 8 – 12 ly nước mỗi ngày. Nước ở đây có thể là nước chín, nước ép rau, quả, thịt…) sữa hoặc những thực phẩm có chứa nhiều nước.
– Luôn đem theo nước mỗi khi rời nhà. Điều quan trọng là uống nước ngay cả những lúc không khát vì khát không phải là một dấu chỉ điểm cho thấy cơ thể cần nước.
– Hạn chế những thức uống chứa cafein như càfê, trà đậm.
– Nên uống nước sau hoặc giữa bữa ăn.
2.8 Táo bón:
Gọi là táo bón, táo bón khi 1 tuần đại tiện ít hơn 3 lần và phân rắn. Đây là một vấn đề rất thường thấy ở bệnh nhân ung thư. Nguyên nhân có thể là do thiếu nước hoặc thiếu nhiều chất xơ trong chế độ ăn, thiếu hoạt động thể lực, những tác động bởi liệu pháp điều trị. Một số gợi ý sau đây có thể giúp ngăn ngừa táo bón:
– Ăn chế độ ăn nhiều chất xơ và uống nhiều nước (lượng xơ khuyến cáo là 25 – 35g cho 1 người/ngày).
– Uống từ 8 – 10 ly nước mỗi ngày
– Nước chín, nước ép (rau, quả, thịt) ấm, nước chanh, trà không có cafein sẽ rất hiệu quả.
– Nên đi bộ và vận động thường xuyên.
– Nếu táo bón vẫn tồn tại sau những biện pháp dinh dưỡng, vận động và đi bộ. Có thể sử dụng thuốc để điều chỉnh.
3. Các thực phẩm nên dùng:
Thực hiện chế độ ăn thức ăn sống. (Sinh thực liệu pháp)
– Biện pháp này chống ung thư tại nước ngoài đã có 100 năm lịch sử. Sớm nhất là bác sỹ Các- lin người Do Thái đã dùng chống ung thư bằng nước táo, nước quít, nước rau cần…
– Một nhà khoa học Mỹ mắc bệnh ung thư trong lúc tuyệt vọng nghĩ ra phép ăn thức ăn sống, bà ta ăn một ngày 3 bữa rau, quả dưa, không ăn thức ăn chín, ăn như thế bà sống thêm 20 năm mà không dùng phương pháp nào khác, biện pháp này có thể dự phòng và ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh ung thư, vì rau xanh, dưa quả có thể bảo vệ hệ thống miễn dịch của cơ thể.
– Phần lớn sinh tố và men có trong rau gặp nhiệt bị phân hủy, và rất nhiều rau có thể ăn sống được
Ăn nhiều thức ăn có chứa sinh tố A:
– Sinh tố phòng được ung thư nhất là ung thư thượng bì.
– Sinh tố A có tác dụng nâng cao khả năng thích nghi của cơ thể đối với chất gây ung thư ( giảm bớt cơ hội mắc ung thư).
– Sinh tố A có nhiều trong sữa bò, sữa dê, lòng đỏ trứng gà, gan động vật, cà rốt, ớt, rau dền.
– Có người Mỹ khảo sát trong một số 488 ăn ít Caroten, có 14 người mắc bệnh ung thư, Một tổ khác ăn nhiều Caroten chỉ có 2 người mắc bệnh ung thư phổi.
Nên thường xuyên ăn thức ăn có nhiều sinh tố C:
– Sinh tố C có khả năng ngăn chặn tế bào ung thư phát sinh và phát trển.
– Sinh tố C có nhiều trong trái cây như: Ổi (Có 228 gram Vitamin C mỗi 100 gram ổi), Kiwi (Có 90 gram Vitamin C mỗi 100 gram kiwi), Dâu Tây (Có 60 gram của Vitamin C mỗi 100 gram dâu tây), Cam (Có 50 gram Vitamin C mỗi 100 gram cam), Họ nhà bí (Có 40 gram Vitamin C trong mỗi 100 gram bí), Quả mâm xôi (Có 30 gram Vitamin C mỗi 100 gram quả mâm xôi), Cà chua (Có 10 gram Vitamin C mỗi 100 gram cà chua),
Ăn nhiều thức ăn có tác dụng ức chế ung thư như: Bắp cải, súp lơ (hay su lơ, hoa lơ)…và các chất nấm chống ung thư như: Nấm hương, nấm rơm…
Thường ăn các loại: Tỏi, củ cải trắng, rau rút, củ ấu, măng nhược trúc.
– Trong tỏi có một loại axit amin mới là alixin ( có người dùng nuôi chuột bằng chất này, kết quả ức chế được di căn của tế bào ung thư) .
– Ở Trung Quốc, huyện Thường Sơn, tỉnh Sơn Đông rất ít người chết vì ung thư dạ dày vì dân vùng này thích trồng và ăn tỏi.
– Theo các nhà nghiên cứu Tỏi có tác dụng ức chế tế bào mà hạn chế sự hình thành muối nitrate là nguyên liệu gây ung thư do đó chặn sự hình thành nitrate amonium là chất gây ung thư. Củ cải trắng cũng có tác dụng chống ung thư.
Nên thường ăn rau xanh. Có chất diệp lục tố có thể chống ung thư, thực nghiệm khoa học chứng minh 95% chất diệp lục tố không bị chất kiềm toan trong ruột phá hủy.
Ý Dĩ (là cây thảo còn có tên khác là ý mễ, lục cốc tử, mễ nhân, bo bo, cườm gạo…), sữa ong chúa và hải tảo ( rong biển) là những chất chống ung thư. Táo đỏ, sữa chua đều qua nghiên cứu thấy có tác dụng chống ung thư.
Quả Tỳ Bà (chính là Nhót Tây). Nhót Tây có chất chống ung thư B17. nên ăn cá hố, huyết ngỗng, khoai sọ có tác dụng chống ung thư.
4. Thực phẩm nên tránh:
+ Những thực phẩm có khả năng gây đầy hơi như đậu nấu tái, quá nhiều rau bắp cải, gia vị cay như ớt, hạt tiêu.
+ Hạn chế ăn thịt, nhất là thịt màu đỏ (thịt trâu, bò, ngựa v.v…), thịt nguội và đồ hộp.
+ Cần từ bỏ thói quen uống rượu, bia, cà phê, thuốc lá và tăng cường hoạt động thể lực.
+ Không bổ sung các chất chống oxy hóa như vitamin A, E, C, Selen dưới dạng thuốc vì các thuốc này thường làm giảm khả năng tiêu diệt tế bào ung thư.
+ Không nên dùng vitamin B12.
5. Các thực phẩm gây ung thư:
– Thịt xông khói, thực phẩm ướp muối hay ngâm muối (cá muối, dưa muối khú): Chúng có lượng nitrosamine cao, thường gây ung thư dạ dày hoặc ung thư vú.
– Thực phẩm bị nhiễm nấm mốc (đậu nành, lạc, gạo, bắp…): Chứa aflatoxin B1 gây ung thư gan.
– Thịt mỡ chế biến ở nhiệt độ cao (nhất là khi nướng thịt ở nhiệt độ khoảng 250 độ C), thức ăn nướng cháy, dùng lại mỡ đã rán hoặc xoong chảo rán xong chưa rửa sạch: Cơ thể sẽ hấp thu nhiều Benzopyren gây ung thư đường tiêu hóa.
– Hạn chế những thứ cung cấp năng lượng rỗng như đường, nước ngọt, kẹo, mỡ..
– Rượu: Gây ung thư hốc miệng, thanh quản, đại tràng, vú, gan, dạ dày.
– Các loại thịt đỏ giàu béo (thịt bò, heo, cừu) và chất béo động vật (trừ mỡ cá): Có thể gây ung thư đại tràng, phổi, vú, tiền liệt tuyến.
– Thực phẩm, rau quả nhiễm hóa chất trừ sâu.
– Không ăn dưa, cà muối chưa chín vì muối nitrat là chất gây ung thư.
V. Phòng bệnh :
Ung thư có thể được chữa khỏi, nếu phát hiện kịp thời. Ngay cả trong trường hợp ung thư không thể chữa khỏi được, thông thường chúng ta có thể điều trị và kiểm soát được căn bệnh với khoảng thời gian từ vài tháng, tới vài năm…
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), do nhiều nguyên nhân gây bệnh nên phương pháp phòng ngừa đóng vai trò quan trọng. Nên tránh xa khói thuốc lá, hạn chế rượu, ăn nhiều rau xanh, trái cây, giảm ăn thịt, mỗi ngày không nên ăn quá 30 – 90g thịt, nhất là thịt đỏ như thịt bò, thịt heo, thịt cừu, thịt dê. Duy trì trọng lượng cơ thể hợp lý, không thừa cân, béo phì, mỗi ngày nên luyện tập thể thao ít nhất 30 phút và nên đi khám bệnh định kỳ. Tránh ánh nắng gay gắt, phòng tránh các căn bệnh nhiễm trùng, chủng ngừa viêm gan B, ung thư tử cung, duy trì tình dục an toàn. Nên duy trì cuộc sống vận động, tránh xa cuộc sống tĩnh tại, nằm và ngồi nhiều.
Nguyên Cố vấn cao cấp Trung tâm Ung bướu – Tế bào gốc, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Huyết học – Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa
Nguyên là Phó Trưởng khoa Tai – Tai Thần kinh – Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương.
Hiện nay Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa có lịch thăm khám và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa An Việt
Bác sĩ Chuyên khoa Ung bướu – Nội tiết
Chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tuyến giáp ở Việt Nam
Chủ tịch CLB người bệnh ung thư tuyến giáp và các bệnh lý tuyến giáp
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 500.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 250.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 300.000đ |