Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
I. U ở họng miệng
1. U mạch
Có thể là u mạch máu hay u bạch mạch, là các u lành bẩm sinh gặp chủ yếu ở trẻ gái (90%).
1.1. Chẩn đoán
– Tuy là u bẩm sinh nhưng tiến triển chậm, 1 – 2 năm đầu thường chưa phát hiện được.
– U có thể gặp ở màn hầu, má, lưỡi nhưng thường gặp hơn cả là ở lưỡi gà, u có màu đỏ tím, mặt thường có hạt lổn nhổn hoặc gồ ghề, dễ chảy máu.
– Nếu khối u phát triển to làm cản trở hay bít tắc đường thở và đường ăn, có thể chảy máu tái phát luôn làm ảnh hưởng đến tính mạng.
– U cũng có thể lan rộng từ màn hầu theo trụ trước amiđan xuống đáy lưỡi, tới tận thanh quản.
1.2. Xử trí
– Nếu u nhỏ, khu trú thì có thể dùng thòng lọng, đông điện cắt đi hoặc tiêm các chất xơ, đông lạnh.
– Nếu u phát triển, lan rộng nhanh, ta có thể làm tắc mạch bằng cách thả có hướng dẫn vật gây tắc theo động mạch cảnh ngoài.
– Quang tuyến trị liệu được coi là chống chỉ định vì làm ảnh hưởng đến sự phát triển khối xương mặt và có nguy cơ gây ra carcinom sau này.
2. U nhú (Papilome)
– U nhú ở họng thường đi đôi với u nhú thanh quản.
2.1. Chẩn đoán:
– Ở họng, u nhú thường là khối sùi mềm, nhiều múi ở lưỡi gà hay ở amiđan.
– U gây ngứa họng, vướng họng làm ảnh hưởng đến ăn, nuốt.
2.2. Xử trí:
– Có thể dùng kìm bấm các u nhú dễ dạng, những dễ tái phát và phát triển nhanh hơn.
– Đông điện, đặc biệt đông lạnh lại cho kết quả tốt.
3. Polyp amiđan
– Thực ra nó có cấu trúc như amiđan và được coi như một amiđan phụ, dính vào amiđan bằng một cuống, thường ở đáy amiđan. Nếu nhỏ và ở đáy amiđan thì không có triệu chứng gì, thường phát hiện ra khi cắt amiđan hay khám họng do các nguyên nhân khác.
– Nếu to và ở cao hơn thì sẽ gây ảnh hưởng đến nuốt, thở vướng khi nằm.
– Ngoài polyp amiđan thực sự, ta cũng có thể gặp u mỡ ở đây. Nó dính vào amiđan bằng một cuống như polyp nhưng thường nhỏ và mềm.
– Nếu ảnh hưởng, có thể cắt bỏ dễ dàng bằng thòng lọng như polyp amiđan đơn thuần hay lấy bỏ cùng với cắt amiđan.
4. U phổi có cuống
– Phát sinh ngay từ bào thai, có nguồn gốc cung mang. Có thể là u nhầy, u xơ, hay u tổ chức đệm.
– U thường xuất phát từ hốc cực trên amiđan, đôi khi từ hố Rosenmuller.
– U nhẵn, mềm, có dạng nang, đường kính từ dưới 1cm đến trên 2cm.
– Nếu cuống ngắn,có thể thấy ngay ở họng – miệng và có thể ảnh hưởng đến ăn, bú hoặc gây khó thở khi nằm.
– Đôi khi cuống dài làm u tụt vào tiền đình thanh quản gây khí, ngạt thở. Khi bệnh nhân thay đổi tư thế, u lai tự rơi ra và hết khó thở.
– Lấy bỏ u dễ dàng vì cuống thường nhỉ và dài, khi cắt rời không chảy máu.
5. U màn hầu (bệnh tắc võng)
– Chủ yếu là do u tăng sản tổ chức liên vóng, nằm trong bệnh tăng võng chung. U có thẻ thấy ở mọi chỗ của cơ thể, riêng ở họng thường thấy ở màn hầu.
– Vùng ranh giới khẩu cái cứng và khẩu cái mềm là nơi phồng lên thành khối u mềm, nhẵn, màu đỏ hồng, ấn không đau.
– U lớn dần chiếm cả nửa màn hầu, lan đến lưỡi gà, cực trên amiđan. Thành trên màn hầu cũng bị phồng lên che lấp phần dưới của họng mũi.
– Sau đó u vỡ thành loét ăn sâu và lan rộng, bờ vết loét không đều, đáy có nhiều hạt lổn nhổn.
– Vết loét lan rộng sang bên màn hầu đối diện, đến trụ của amiđan hoặc thành bên của vòm họng. Loét ăn sâu gây thủng hàm ếch.
– Lúc đầu khi u to gây nuốt vướng, nói giọng mũi kín. Khi u đã loét gây nuốt đau, sặc lên mũi, ù tai và nghe kém, chảy máu thường xuyên.
– Khi đã lan thành bệnh hệ thống, các hạch sưng to, bệnh nhân sốt cao và dao động, thể trang suy sụp, hồng cầu giảm đưa tới tử vong.
– Điều trị: nằm trong điều trị chung bệnh tăng võng. Hiện chưa có biện pháp hữu hiệu.
– Các kháng sinh không tác dụng. Corticoid chỉ làm chậm sự phát triển của bệnh.
6. U hỗn hợp
– Là u lành nhưng có khả năng ác tính hóa.
– Gọi là u hỗn hợp vì nó có cấu trúc phức tạp: ngòai là lớp biều mô, trong là tổ chức liên kết đa dạng.
– U thường thấy ở màn hầu, phía trên amiđan. U có dạng nang nhưng chắc, mặt nhẵn, vỏ dày, di động, không dính vào xương và niêm mạc, không đau, không loét.
– Khi u đã to mới gây ảnh hưởng đến nuốt, nói. U phát triển chậm nhưng có đặc điểm tiến dần ra phía ngoài, về phái tuyến mang tai hay lên trên vào hố chân bướm hàm.
– Điều trị bằng phẫu thuật lấy bỏ toàn bộ khối u dưới niêm mạc dễ dàng nếu u khu trú ở màn hầu.
– Nếu u đã lan sang đến hố chân bướm hàm, phải theo đường ngoài, rạch sau góc hàm theo đường Sebileau – Carrega (Xêbilô – Carega).
II. U ở hạ họng
1. U nang
– Thường găp ở đáy lưỡi, nếp lưỡi thanh nhiệt, có khi ở ngay mặt trên lưỡi dưới dạng u nang nhầy.
– U nang có thể đơn độc, nhưng cũng có khi có vài u. Nếu u nang to ở đáy lưỡi hay nếp lưỡi thanh nhiệt, có thể làm ảnh hưởng đến nuốt: nuốt khó, dễ bị sặc. Không cần bóc tách lấy cả khối u nang, chỉ cần rạch hay bấm mở rộng mặt tự do, u nang sẽ tự tao đi, ít khi tái phát.
2. Bướu giáp đáy lưỡi (Goitre linguale)
– U ở đáy lưỡi, thường gặp ở nữ.
– Về cấu trúc, u giống như một bướu cổ, thường gặp ở vùng có tỷ lệ mắc bướu giáp trạng cao hoặc ở người có mẹ bị bướu giáp trạng. Cũng có khi nó giống như tuyếp giáp trạng bình thường.
– U phát triển chậm, nếu nhỏ thì ít gây ảnh hưởng ngoài cảm giác cộm, vướng khi nuốt.
– Ở một số người có u có thể phát triển ngày càng lớn, khi u to sẽ chèn ép làm hẹp vùng họng gây nuốt vướng, khó nuốt, nói âm sắc không rõ, khó thở khi nằm ngửa. Ở hài nhi dễ gây nuốt sặc, khó thở theo tư thế.
– Soi thanh quản gián tiếp, thấy u nằm ở đáy lưỡi hoặc thấp hơp đến nếp lưỡi thanh nhiệt. U nhẵn, mềm, màu hồng, mặt có các mạch máu nổi rõ.
– Để chẩn đoán nên chụp nhấp nháy đồ với đồng vị phóng xạ iod, đồng thời kiểm tra xem có tuyến giáp trước khí quản hay không.
– Nếu u gây khó thở thì cần cắt bỏ khối u, nhưng nếu không có tuyếp giám thì không được cắt bỏ cả khối u.
III. U bên họng
– U bên họng là các u phát triển ở khoang họng, như vậy có:
– U khoang trước trâm
– U khoang sau trâm
– U khoang sau họng
Các u phát sinh từ các bộ phận nằm trong ba khoang trên và thường gặp:
– U của tổ chức liên kết
– U của tổ chức biểu mô
– U thần kinh
1. U khoang trước trâm
Chủ yếu xuất phát từ tuyến mang tai.
1.1. Chẩn đoán:
– U phát triển vào phía trong, đẩy màn hầu căng phồng về phía trước và trong làm lưỡi gà lệch sang bên đối diện, amiđan bên đó bị đẩy xuống dưới và vào trong làm trụ trước che lấp một phần amiđan, nhưng nó không bị nề, đỏ.
– U cũng phát triển xuống dưới vào ô hạ hàm làm thành khối chắc, ít di động ở sau tuyến hạ hàm, đôi khi khó phân biệt được với tuyến hạ hàm.
1.2. Điều trị
– Chủ yếu là phẫu thuật lấy bỏ khối u. Thường theo đường ngoài trừ trường hợp u nhỏ ở cạnh amiđan thì có thể theo đường trong họng. Với các u hỗn hợp thì thường kết hợp với quang tuyến trị liệu.
2. U khoang sau hàm
– Khoang sau trâm hay dưới tuyến mang tai chứa đựng nhiều tổ chức thần kinh và mạch. U vùng này chiếm phần lớn các u bên họng và thường gặp là các u thần kinh, cũng có thể là u xơ và u ác (Sarcom).
1.1. Chẩn đoán
– U đẩy dồn thành bên họng vào phía trong. Trụ sau và amiđan bị đẩy ra phía trước, màn hầu, lưỡi gà ít bị ảnh hưởng.
– U cũng phát triển xuống dưới về phía ô hạ hàm thành khối chắc ở sau ngành lên xương hàm trên.
– Các triệu chứng chức năng nghèo nàn, lúc đầu chỉ có nuốt vướng nhẹ, khi u đã to sẽ gây khó nuốt và nuốt đau.
– Thường gặp nhất là u thần kinh bao giao cảm cổ với các triệu chứng điển hình:
– Sờ thành bên họng thấy được nhịp đập của động mạch cảnh trong bị u đẩy dồn gần vào thành họng.
– Hội chứng Claude Bernard Horner (Clôđơ – Becma – Hooocnơ) với: hẹp khe mắt, lõm nhãn cầu, hẹp đồng tử, ½ mặt nóng và đỏ nhẹ.
– U thần kinh X, XII và thần kinh đệm (gliome): ít gặp.
– Các u ác: (Sarcom) cũng gặp ở vùng này với đặc tính phát triển to và nhanh, chèn ép vào các dây thần kinh IX, X, XI và XII gây liệt màn hầu, liệt họng, liệt lưỡi, liệt thanh quản…
2.2. Điều trị:
– Phẫu thuật lấy bỏ các u lành, thường theo phương pháp Sebileau – Carrega với đường vào ở phía động mạch cảnh ngoài.
3. U khoang sau họng
– U khoang này rất hiếm, chủ yếu là những di căn ung thư vùng mũi, họng, miệng,…
3.1. Chẩn đoán
– U thường nằm lệch về một bên thành sau họng, làm niêm mạc bị phồng, căng, đỏ.
– Sờ bằng ngón tay ta thấy khối u cứng, không di động.
– Khi u nhỏ, bênh nhân chỉ có cảm giác nuốt vướng nhẹ hay bị nhức đầu.
– Khi u đã lớn, đè vào màn hầu sẽ gây ngạt tắc mũi. Bệnh nhan nói giọng mũi kín, nuốt vướng, nuốt khó và đau, quay cổ khó và đau.
– U có thể phát triển ra sau vào cột sống cổ hay xuống dưới dọc theo khoang Henke tới ngực.
3.2. Điều trị
– Phẫu thuật kết hợp với quang tuyến trị liệu. Theo phương pháp Trần Hữu Tước đi vào khối u theo đường sau động mạch cảnh trong sẽ dễ dàng và bảo đảm hơn.
Cần nhớ
1. U ở họng thường gây nuốt vướng, nuốt đau là chính, một số loại gây khó thở, đặc biệt khó thở theo tư thế.
2. Các u ở họng do bẩm sinh nhưng các triệu chứng có thể xuất hiện chậm.
3. U ở họng cần được xử lý sớm để tránh tình trạng khó thở mãn, tắc thở, suy kiệt do thiếu ăn uống.
Nguyên Cố vấn cao cấp Trung tâm Ung bướu – Tế bào gốc, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Huyết học – Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa
Nguyên là Phó Trưởng khoa Tai – Tai Thần kinh – Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương.
Hiện nay Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa có lịch thăm khám và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa An Việt
Bác sĩ Chuyên khoa Ung bướu – Nội tiết
Chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tuyến giáp ở Việt Nam
Chủ tịch CLB người bệnh ung thư tuyến giáp và các bệnh lý tuyến giáp
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 500.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 250.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 300.000đ |