Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
1. Khái niệm :
Ung thư bàng quang là ung thư đường tiết niệu thường gặp nhất. Loại ung thư này thường bắt đầu từ bề mặt của bàng quang – cơ quan có hình quả bóng nhỏ trong khung chậu nơi chứa đựng nước tiểu. Trên 90% ung thư xuất phát từ tế bào chuyển tiếp còn gọi là ung thư biểu mô chuyển tiếp. Còn lại có khoảng 8% là ung thư biểu mô vảy.
2. Các yếu tố nguy cơ :
Mặc dù các nhà khoa học chưa biết chắc chắn nguyên nhân gây ung thư bàng quang, nhưng đây không phải là bệnh lây nhiễm. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã xác định được một số yếu tố có thể góp phần vào sự phát triển của bệnh, do bản thân các yếu tố đó hoặc kết hợp với các yếu tố khác.
Các yếu tố nguy cơ đó là:
– Tuổi: Những người cao tuổi dễ bị ung thư bàng quang hơn so với những người trẻ, bệnh rất ít gặp ở tuổi dưới 40.
– Thuốc lá: người ta cho rằng thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính gây ung thư bàng quang. Nguy cơ bị ung thư bàng quang ở người hút thuốc lá cao gấp 2-3 lần so với người không hút.
– Nghề nghiệp: Một số công nhân có nguy cơ cao bị ung thư bàng quang vì tiếp xúc với các yếu tố sinh ung thư như cao su, chất hóa học, da thuộc. Các công nhân như thợ làm đầu, thợ kim khí, thợ sơn, in, dệt, người lái xe tải cũng tăng nguy cơ bị căn bệnh này.
– Nhiễm trùng: Những người bị nhiễm ký sinh trùng có nguy cơ mắc ung thư bàng quang cao. Các bệnh do ký sinh trùng phổ biến hơn ở các nước nhiệt đới.
– Những người bị ung thư hoặc những bệnh khác mà phải điều trị bằng Cyclophosphamide hoặc Asenic có nguy cơ mắc ung thư bàng quang.
– Chủng tộc: Người Mỹ da trắng có nguy cơ mắc ung thư bàng quang cao gấp 2 lần so với người Mỹ da đen và người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Tỉ lệ mắc thấp nhất ở tộc người châu Á.
– Nam giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nữ giới; tiền sử gia đình; tiền sử đã từng bị ung thư bàng quang có khả năng tái phát…
Nếu ai nghĩ rằng mình có các yếu tố liên quan tới ung thư bàng quang thì hãy nói với bác sĩ về mối liên quan này. Các bác sĩ có thể gợi ý cho bạn cách làm giảm các nguy cơ và có kế hoạch kiểm tra thích hợp.
3. Dấu hiệu nhận biết :
Ung thư bàng quang thường không có những dấu hiệu và triệu chứng khi ở giai đoạn sớm. Dấu hiệu cảnh báo đầu tiên là thường có máu trong nước tiểu. Tuy nhiên, không có nghĩa là tất cả các trường hợp có máu trong nước tiểu đều bị ung thư bàng quang. Khi có bất kỳ các dấu hiệu nào dưới đây, hãy đến bác sĩ khám để được chẩn đoán bệnh:
– Đi tiểu ra máu (nước tiểu có màu hồng nhạt đến đỏ thẫm).
– Đau khung chậu; đau trong khi đi tiểu.
– Đái dắt, muốn đi tiểu nhưng không đi được; đi tiểu thường xuyên hoặc cảm thấy cần đi tiểu mà không kiểm soát được.
– Dòng nước tiểu bị chậm lại.
4. Điều trị bằng cách nào :
Bệnh nhân hiểu biết về ung thư bàng quang chính là một yếu tố quan trọng trong việc điều trị bệnh. Do đó bệnh nhân càng đưa ra được nhiều câu hỏi cho thầy thuốc thì càng có lợi. Tuy nhiên, khi bệnh nhân biết mình bị mắc ung thư, họ sẽ bị sốc và sẽ chẳng biết cần phải hỏi bác sĩ điều gì. Sự lo lắng chính là thủ phạm gây trở ngại đối với điều trị.
Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị được lựa chọn đối với bệnh nhân mắc ung thư bàng quang như phẫu thuật, tia xạ, hóa chất, sinh học. Ở một số bệnh nhân, có thể phối hợp các phương pháp này. Tuy nhiên để điều trị hiệu quả nhất phải xác định được loại ung thư và giai đoạn của bệnh; tuổi tác và sức khỏe chung của bệnh nhân.
Phẫu thuật: là phương pháp điều trị thường được áp dụng đối với ung thư bàng quang. Việc lựa chọn phương pháp này phụ thuộc vào giai đoạn và độ lớn của khối u. Nếu khối u còn nhỏ và ở giai đoạn sớm, có thể phẫu thuật cắt bỏ khối u qua nội soi, sau đó bệnh nhân có thể được điều trị tiếp bằng hóa chất hoặc sinh học. Phẫu thuật cắt bỏ một phần bàng quang được áp dụng với khối u có sự xâm lấn chỉ ở một vùng của bàng quang.
Nếu khối u đã lan rộng trên bề mặt bàng quang hoặc bị xâm lấn thì phải cắt bỏ toàn bộ bàng quang, nạo vét hạch lympho gần đó. Thậm chí phải cắt cả các cơ quan gần đó như tuyến tiền liệt, túi tinh, ống dẫn tinh (ở nam giới), tử cung, buồng trứng, vòi trứng, một phần của âm đạo (với nữ giới)… nếu có tế bào ung thư xâm lấn.
Điều trị bằng tia xạ: Đây là phương pháp điều trị trong đó người ta sử dụng những tia có năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư. Giống như phẫu thuật, xạ trị là phương pháp điều trị tại chỗ do đó chỉ có tác dụng diệt các tế bào ung thư tại vùng chiếu xạ.
Một số bệnh nhân có thể được điều trị bằng tia xạ trước khi phẫu thuật với mục đích thu nhỏ bớt thể tích của khối u làm cho việc phẫu thuật sau đó dễ dàng hơn. Còn một số bệnh nhân được điều trị bằng tia xạ sau phẫu thuật để tiêu diệt nốt các tế bào ung thư còn sót lại. Ngoài ra, xạ trị cũng được chỉ định đối với bệnh nhân không còn khả năng phẫu thuật.
Trong điều trị ung thư bàng quang, tia xạ có thể từ bên ngoài cơ thể (xạ ngoài) hoặc từ các chất phóng xạ được đặt trực tiếp vào trong bàng quang (xạ trong). Xạ ngoài thường được thực hiện trong điều trị ngoại trú, 5 ngày 1 tuần trong vòng 5 đến 7 tuần.
Bệnh nhân có thể thấy mệt mỏi trong suốt quá trình xạ trị, đặc biệt là những tuần điều trị cuối. Xạ ngoài có thể gây cháy da vùng chiếu xạ. Bệnh nhân thường bị rụng lông, da đỏ khô, nứt và ngứa. Xạ trong có thể gây buồn nôn, nôn, tiêu chảy, rối loạn tiểu tiện… Xạ trị còn gây giảm bạch cầu, do đó cơ thể bệnh nhân rất dễ bị nhiễm trùng. Điều trị tia xạ đối với ung thư bàng quang còn gây ảnh hưởng đến sinh hoạt tình dục ở cả nam và nữ giới. Phụ nữ có thể bị khô âm đạo, còn nam giới không đạt được trạng thái cương cứng.
Mặc dù các tác dụng phụ của xạ trị có thể làm cho bệnh nhân lo lắng, nhưng nó chỉ mang tính tạm thời và bác sĩ có thể kiểm soát được.
Điều trị hóa chất: phương pháp này là dùng các thuốc để tiêu diệt các tế bào ung thư. Có thể sử dụng một hoặc kết hợp nhiều loại thuốc trong quá trình điều trị. Phương pháp này có thể được điều trị sau phẫu thuật để phá hủy những tế bào ung thư còn sót lại. Tác dụng phụ của hóa chất phụ thuộc vào loại thuốc và liều lượng, đường đưa thuốc vào cơ thể cũng như cách thức điều trị.
Các tác dụng phụ của phương pháp này là rụng tóc, buồn nôn, nôn và mệt mỏi. Sử dụng hóa chất toàn thân còn khiến số lượng tế bào bạch cầu và hồng cầu giảm khiến bệnh nhân dễ bị nhiễm khuẩn và xuất huyết. Tác dụng phụ nguy hiểm nữa của hóa chất là gây suy thận. Do đó bệnh nhân cần được bác sĩ theo dõi trong suốt quá trình điều trị và sau đó.
Điều trị sinh học: Đây là phương pháp điều trị trong đó sử dụng những khả năng tự nhiên của cơ thể (hệ thống miễn dịch) để chống lại tế bào ung thư. Phương pháp này được áp dụng sau phẫu thuật lấy khối u qua đường niệu đạo đối với u ở bề mặt bàng quang, có tác dụng ngăn cản sự phát triển trở lại của các tế bào ung thư. Phương pháp này có thể gây kích ứng bàng quang khiến bệnh nhân có cảm giác mót đái, đái dắt, đau khi đi tiểu. Ngoài ra bệnh nhân còn cảm thấy mỏi mệt, buồn nôn, đái ra máu, sốt nhẹ hoặc ớn lạnh.
5. Phòng bệnh
Mặc dù ung thư thường không phòng tránh được, tuy nhiên, chúng ta có thể can thiệp vào các yếu tố nguy cơ như: không hút thuốc; cẩn thận với các hóa chất và nguồn nước nhiễm hóa chất; uống nhiều nước trong mỗi ngày để thải lọc những chất độc có trong nước tiểu; khám bệnh định kỳ để phát hiện sớm các vấn đề về sức khỏe; ăn nhiều rau cải xanh…
6. Câu hỏi liên quan :
Hỏi :
Tôi 54 tuổi, phát hiện ung thư bàng quang giai đoạn sớm. Tháng 12-2008 tôi được điều trị mổ nội soi cắt u trong bàng quang và hóa trị 6 lần trong 6 tuần. Sau đó 1 tháng tôi có đi khám thì khối u không còn, nhưng 9 tháng sau thì khối u lại tái phát và lần này bác sĩ chỉ định phải cắt bỏ hoàn toàn bàng quang và phải đeo cái túi bên hông suốt đời.
Sau khi mổ cũng không phải xạ trị hay hóa trị gì cả. 3 tháng sau tôi đi chụp CT và kết quả tốt. BS nói tôi phát hiện sớm nên chưa bị di căn. Tôi muốn hỏi BS sau khi bình phục tôi có còn khả năng sinh hoạt vợ chồng được không và sau này có phương pháp làm bàng quang giả để không phải đeo túi ở bên ngoài hay không? Xin chân thành cảm ơn BS.
Đáp :
Hệ thống tiết niệu bao gồm các cơ quan:
– Thận: lọc và bài tiết nước tiểu.
– Niệu quản: dẫn nước tiểu từ bàng quang xuống thận.
– Bàng quang: chứa và tống xuất nước tiểu ra ngoài.
– Niệu đạo: dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài.
Đoạn cuối của hệ thống tiết niệu kiêm thêm chức năng sinh dục:
– Tiền liệt tuyến: sản xuất tinh dịch.
– Tinh hoàn: sản xuất tinh trùng.
– Dương vật: cơ quan cương chứa niệu đạo nằm bên trong, vừa có chức năng dẫn nước tiểu vừa có chức năng giao hợp.
Để điều trị ung thư bàng quang, các bác sĩ phải phẫu thuật cắt bướu qua nội soi bàng quang, hoặc cắt bán phần hoặc toàn bộ bàng quang, tùy theo giai đoạn bệnh. Trong 2 tình huống đầu, cấu trúc giải phẫu học và chức năng của toàn bộ hệ tiết niệu được bảo vệ gần như hoàn toàn. Do đó, bệnh nhân có thể trở lại cuộc sống bình thường và không gặp trở ngại gì.
Trong trường hợp phải cắt toàn bộ bàng quang, cấu trúc giải phẫu học và chức năng của hệ tiết niệu không còn nguyên vẹn. Khi mất bàng quang, chúng ta thấy con đường bài tiết nước tiểu từ thận xuống niệu đạo rõ ràng bị gián đoạn ngay đoạn giữa.
Để giải quyết vấn đề này và tái lập sự lưu thông của nước tiểu, các bác sĩ phải làm thêm một phẫu thuật tạo hình bàng quang bằng một đoạn ruột non. Đoạn ruột non sẽ được cắt rời khỏi ống tiêu hoóa, 2 niệu quản được cắm vào ruột, khâu kín một đầu, đầu còn lại sẽ trổ ra da thành một lỗ bài tiết trên thành bụng bệnh nhân.
Như vậy, đoạn ruột dùng thay thế chỉ có chức năng chứa nước tiểu đơn thuần chứ không có đầy đủ các chức năng của bàng quang. Các bác sĩ không thể khâu nối “bàng quang mới” này với niệu đạo để nước tiểu đi ra bên dưới được. Hiện tại, vẫn chưa có phẫu thuật nào khác giúp bệnh nhân khỏi phải mang túi nước tiểu bên ngoài.
Hiện tượng cương của dương vật được điều khiển bởi các thần kinh nằm xung quanh tiền liệt tuyến và cổ bàng quang. Do vậy, vấn đề sinh hoạt tình dục có liên quan mật thiết với kỹ thuật mổ. Nếu sau mổ, dương vật vẫn cương bình thường thì hoạt động tình dục vẫn có thể diễn ra bình thường. Nếu trong khi mổ, vì yêu cầu an toàn và triệt để trong điều trị ung thư, các bác sĩ phẫu thuật phải hi sinh các nhánh thần kinh này thì khi đó dương vật sẽ mất khả năng cương. Và đương nhiên, bệnh nhân không thể sinh hoạt tình dục được
Nguyên Cố vấn cao cấp Trung tâm Ung bướu – Tế bào gốc, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Huyết học – Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa
Nguyên là Phó Trưởng khoa Tai – Tai Thần kinh – Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương.
Hiện nay Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa có lịch thăm khám và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa An Việt
Bác sĩ Chuyên khoa Ung bướu – Nội tiết
Chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tuyến giáp ở Việt Nam
Chủ tịch CLB người bệnh ung thư tuyến giáp và các bệnh lý tuyến giáp
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 500.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 250.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 300.000đ |