Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
1. Khái niệm :
Ung thư dạ dày là ung thư xuất phát từ niêm mạc dạ dày. Bệnh thường không có triệu chứng cho đến khi đã phát triển đến giai đoạn trễ. Thường thì khi được chẩn đoán, tiên lượng rất xấu.
Đa số các trường hợp ung thư dạ dày xảy ra ở người trên 60 tuổi, hiếm khi xảy ra trước tuổi 50, và thường xảy ra ở đàn ông hơn là ở phụ nữ.
2. Triệu chứng
Nhiều bệnh nhân ung thư dạ dày không có triệu chứng gì cả. Khi xảy ra, các triệu chứng có thể rất mơ hồ. Các triệu chứng này cũng thường gặp ở những người bị loét dạ dày, viêm dạ dày hoặc các bệnh dạ dày khác.
Các triệu chứng thường gặp nhất là đầy bụng sau khi ăn, buồn nôn, chán ăn, khó tiêu, tiêu chảy và táo bón. Các triệu chứng khác có thể là sụt cân, nôn hoặc tiêu ra máu, hoặc đi cầu phân đen.
Tuỳ theo mức độ tiến triển của bệnh vào lúc chẩn đoán, tiên lượng của ung thư dạ dày có thể khác nhau. Nếu phát hiện sớm, trước khi ung thư xâm lấn qua lớp niêm mạc, khả năng chữa khỏi sẽ cao hơn, tuy nhiên kết quả điều trị có thể rất khác nhau ở các bệnh nhân khác nhau. Nói chung tỉ lệ chữa khỏi có thể lên đến 50 phần trăm, tuy nhiên chỉ có khoảng 10 đến 20 phần trăm các bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn sớm này.
Tỉ lệ sống sót năm năm của ung thư dạ dày, nói chung chỉ là 21 phần trăm.
3. Các xét nghiệm
Nếu có nguy cơ cao bị ung thư dạ dày, xét nghiệm rẽ tiền đầu tiên bác sĩ có thể thực hiện là thử máu vi thể trong phân, nếu kết quả dương tính (có vẽ như là có máu trong phân), sẽ tiến sang các bước kế tiếp. Dù kết quả đầu tiên âm tính, nhưng nếu nghi ngờ, bác sĩ vẫn tiến sang bước kế tiếp.
Bước kế tiếp sẽ là soi bao tử hoặc chụp hình bao tử với thuốc cản quang.
Bao tử được soi bằng cách đưa một ống có gắn ống kính thu hình qua miệng, xuống bao tử để quan sát xem có gì bất thường hay không, dụng cụ này có thể lấy một số mô nghi ngờ để coi dưới kính hiển vi cũng như làm các xét nghiệm nhằm chẩn đoán ung thư khác.
Trong chụp hình với chất cản quang, bệnh nhân sẽ được cho uống chất cản quang nhằm chụp lớp niêm mạc bao tử xem có u bướu, loét hay bất thường gì khác hay không. Nếu có bất thường, bệnh nhân lại sẽ cần phải được soi bao tử để lấy tế bào ra xem xét (gọi là sinh thiết).
Chẩn đoán xác định thường được thực hiện bằng sinh thiết.
Cho tới nay, vẫn chưa có cách thật hiệu quả để truy tầm ung thư dạ dày ở giai đoạn sớm.
4. Điều trị
Ba phương pháp thường dùng nhất là phẫu thuật, hoá trị và xạ trị.
Phẫu thuật thường chỉ có thể áp dụng ở giai đoạn sớm nhằm cắt bỏ một phần hay toàn bộ bao tử cũng như các phần hạch lân cận. Đây là phương pháp duy nhất có thể giúp chữa khỏi bệnh ở giai đoạn sớm.
Hoá và xạ trị thường dùng hỗ trợ nhằm giảm triệu chứng và làm chậm tiến triển bệnh. Chúng có thể được dùng riêng rẽ hay kết hợp với nhau. Điều không may là bên cạnh các tế bào ung thư, chúng cũng hủy hoại các tế bào lành mạnh và gây ra các triệu chứng phụ, do đó bệnh nhân cũng thường cần phải được điều trị cho các triệu chứng gây ra bởi việc điều trị.
Phương pháp điều trị nhiệt nội sinh (Tham khảo bài Ung thư gan phần 9 hỏi đáp)
5. Các yếu tố nguy cơ
Một số yếu tố nguy cơ làm tăng ung thư dạ dày là:
– Chế độ ăn có nhiều thực phẩm ngâm, ướp muối, hun khói
– Hút thuốc
– Quá cân
– Uống rượu nhiều hơn mức vừa phải (một đến hai lon bia hay ly rượu vang nhỏ mỗi ngày)
– Có tiền sử bệnh viêm, loét, hoặc mổ dạ dày
– Có người thân bị ung thư dạ dày
– Bị nhiễm vi trùng Helicobacter pylori
6. Cách phòng ngừa bệnh
Ta có thể giảm nguy cơ ung thư dạ dày bằng cách
– Dùng thức ăn tươi, đặc biệt là rau quả tươi
– Giữ cân nặng vừa phải
– Tránh thức ăn ngâm, hun khói, ướp muối, lên men, cũng như các loại thức ăn được chế biến để giữ lâu khác
– Tránh thuốc lá
– Tránh uống rượu quá mức (trên một đến hai lon bia hay một đến hai ly nhỏ rượu vang mỗi ngày)
– Nên đi khám bệnh sớm nếu bị bệnh bao tử để có thể được điều trị thích hợp và phát hiện bệnh ở giai đoạn có thể chữa khỏi được.
7. Các đối tượng dễ mắc ung thư dạ dày
Theo TS. Vũ Trường Khanh, Phó trưởng Khoa Tiêu hóa, BV Bạch Mai, những người có nguy cao mắc ung thư dạ dày gồm:
1. Những người có bố mẹ hoặc anh em ruột bị ung thư dạ dày.
2. Những người bị cắt bán phần dạ dày sau 15 năm.
3. Những người có viêm teo niêm mạc dạ dày nặng trên nội soi: viêm teo thân vị hoặc toàn bộ niêm mạc dạ dày.
4. Những người từng phát hiện ung thư dạ dày sớm đã điều trị khỏi bằng cắt hớt hoặc tách cắt niêm mạc.
5. Những người bị hội chứng đa polyp tuyến có tính chất gia đình
8. Hỏi đáp:
Câu hỏi: Chế độ ăn sau phẫu thuật cắt dạ dày do bị ung thư?
Trả lời: Cần chú ý theo những nguyên tắc sau:
– Chia nhiều bữa nhỏ, nên ăn 6-7 bữa/ngày, mỗi bữa 150-200ml (lưng bát con). Tránh để đói quá hoặc ăn no quá.
– Tránh ăn các loại quả chua, dưa chua, hành muối, các gia vị (giấm, ớt, tiêu), các chất kích thích (rượu, bia, chè đặc, cà phê) vì chúng có thể gây loét miệng nối. Tránh ăn các loại thức ăn cứng và nhiều xơ như sụn, xương, rau già.
– Có thể uống bổ sung vitamin B1 và viên sắt. Sau khi cắt dạ dày, cơ thể có thể bị thiếu máu do đã mất đi vùng hang vị (nơi có liên quan đến việc hấp thụ sắt).
– Giai đoạn sau phẫu thuật chỉ nên ăn thức ăn mềm lỏng như cháo, súp, các món hầm nhừ… Khi bắt đầu ăn cơm nên tập ăn cơm nát, nhai kỹ trước khi nuốt. Tránh dùng thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh. Có thể ăn được bánh mì khô, cơm, xôi, bánh phở, khoai, bắp… Nên nghỉ ngơi trước cũng như sau bữa ăn.
Câu hỏi: Cắt toàn bộ dạ dày thì nuôi dưỡng như thế nào? Cách nuôi dưỡng nào tối ưu nhất?
Trả lời:
– Nuôi dưỡng qua mở thông hỗng tràng là phương pháp dinh dưỡng an toàn, hiệu quả đối với bệnh nhân sau mổ đường tiêu hóa nặng.
– Chăm sóc dinh dưỡng là một phần không thể thiếu trong điều trị bệnh nhân sau phẫu thuật. Dinh dưỡng sớm sau phẫu thuật làm giảm mức độ và thời gian dị hóa, làm giảm nguy cơ nhiễm trùng sau phẫu thuật.
– Dinh dưỡng sau phẫu thuật dựa chủ yếu vào 2 đường: đường tĩnh mạch và đường ruột.
– Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch toàn bộ thường phải sử dụng đường truyền tĩnh mạch trung ương, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng huyết do Catheter và gây rối loạn chuyển hóa như tăng đường huyết, giảm đường huyết. Nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch bị hạn chế về số lượng dịch truyền vào cơ thể, các chế phẩm nuôi dưỡng tĩnh mạch không sẵn và có giá thành cao.
– Nhờ những hiểu biết về giải phẫu, sinh lý, sinh lý bệnh của hệ thống tiêu hóa ngày càng hoàn thiện, vai trò của nuôi dưỡng đường ruột ngày càng trở nên quan trọng, nhất là ở những bệnh nhân sau mổ ống tiêu hóa nặng, rò tiêu hóa sau mổ…
– So với nuôi dưỡng đường tĩnh mạch, nuôi dưỡng đường ruột trong điều trị phẫu thuật ống tiêu hóa nặng có nhiều ưu điểm: cung cấp dinh dưỡng một cách trực tiếp; dễ áp dụng; giảm giá thành; giảm sự lan truyền của vi khuẩn vào máu; tăng cường khả năng miễn dịch; cải thiện chức năng ruột .
– Nuôi dưỡng đường ruột có thể thực hiện qua ăn đường miệng, ăn qua ống thông dạ dày, ăn qua mở thông dạ dày, mở thông hỗng tràng. Nuôi dưỡng sau mổ ống tiêu hóa nặng như mổ cắt thực quản, cắt toàn bộ dạ dày do ung thư thường được thực hiện qua mở thông hỗng tràng. Nuôi dưỡng qua mở thông hỗng tràng sinh lý hơn, bảo tồn được chức năng hàng rào bảo vệ của ruột và cải thiện đáp ứng miễn dịch với chấn thương phẫu thuật.
Nguyên Cố vấn cao cấp Trung tâm Ung bướu – Tế bào gốc, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Huyết học – Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa
Nguyên là Phó Trưởng khoa Tai – Tai Thần kinh – Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương.
Hiện nay Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa có lịch thăm khám và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa An Việt
Bác sĩ Chuyên khoa Ung bướu – Nội tiết
Chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tuyến giáp ở Việt Nam
Chủ tịch CLB người bệnh ung thư tuyến giáp và các bệnh lý tuyến giáp
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 500.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 250.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 300.000đ |