Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
1. Khái niệm:
Bệnh ung thư gan là bệnh phát sinh do u ác tính trên lá gan, bao gồm hai loại, nguồn gốc phát sinh ung thư gan và sự chuyển thành ung thư gan, mọi người thường hay nói là nguồn gốc sinh ra bệnh gan. Nguyên nhân sinh ra bệnh gan do tế bào phân hình có thể phân thành tế bào gan ung thư, tế bào ống mật và loại hình hỗn hợp ung thư gan. Có thể dựa vào hình thái của u mà phân chia ra các loại hình kết hợp và các loại hình lớn nhanh.
Ung thư tế bào gan nguyên phát là loại ung thư ung thư chiếm tỷ lệ cao, thường gặp nhiều ở nam giới hơn nữ giới. Mà ung thư gan thường phát triển từ bệnh viêm gan B, bệnh nhân mắc bệnh viêm gan C cũng ngày càng tăng, sau khi mắc viêm gan B sẽ phát triển thành ung thư gan. Ung thư gan đã trở thành một sát thủ đe đọa đến sức khỏe và sinh mạng của người dân, mức độ nguy hiểm của nó không thể coi thường được.
2. Nguyên nhân:
Chủ yếu ung thư gan thường hình thành trong chính những lá gan do:
– Khuyết tật bẩm sinh.
– Do uống rượu, hay bị ảnh hưởng lâu dài bởi nhiều loại bệnh chẳng hạn như viêm gan B hay viêm gan C, hemochromatosis (trong gan có quá nhiều sắt).
– Bệnh xơ gan (uống rượu làm cho gan bị tổn thương, viêm gan B hay C, hay hemochromatosis đều chắc chắn là nguyên nhân làm hỏng và gây bệnh cho gan).
– Những người mắc bệnh do di truyền gọi là hemochromatosis, hay bệnh thừa sắt, thì thậm chí nguy cơ ung thư còn hơn rất nhiều.
– Do phơi nhiễm thuốc diệt cỏ và các chất hoá học như nhựa viny clorua và thạch tín.
– Hút thuốc lại hay uống rượu thì càng làm tăng nguy cơ.
– Chất độc tạo thành trong bào tử nấm được sinh ra từ một loại mốc của cây cũng gây ung thư. Những chất độc trong bào tử nấm sẽ làm hỏng lúa mỳ, lạc, gạo, ngô hay đậu tương.
Những nhân tố khác bao gồm:
– Giới tính: Đàn ông thường mắc bệnh ung thư gan nhiều hơn phụ nữ.
– Những vận động viên nữ phải sử dụng hormon để phát triển cơ trong thời gian dài có thể tăng nguy cơ ung thư gan.
– Các loại thuốc tránh thai. Chúng có thể tăng nguy cơ ung thư gan. Hầu hết những loại thuốc tránh thai có liên quan tới bệnh ung thư này đều không được sử dụng trong thời gian dài.
3. Bệnh ung thư gan ở các thời kỳ khác nhau:
3.1 Bệnh ung thư gan thời kỳ đầu
– Sự thèm ăn giảm bớt rõ rệt: Bụng phình to, tiêu hóa kém, có lúc cảm thất buồn nôn, nôn ra đồ ăn.
– Phần bụng bên phải bị đau: Bộ phận gan có thể bị đau liên tục hoặc gián đoạn, có lúc có thể làm cơ thể thay đổi nghiêm trong hơn một chút.
– Tình trạng cơ thể: Sức khỏe yếu, gầy, nóng sốt và phù nề không rõ nguyên nhân.
– Vấn đề về da: Màu vàng, da bụng phình nước, da ngứa
– Xuất huyết: Thường gặp là chảy máu cam và xuất huyết dưới da.
3.2 Bệnh ung thư gan thời kỳ sau
– Tình trạng bệnh tiêu hóa biểu hiện rõ rệt: Mất đi cảm giác thèm ăn và nôn ra nhiều khiến cho người bệnh rất khó khăn khi ăn uống bình thường.
– Đau tại gan: Màng gan thường xuyên nhận những đợt tấn công của bệnh, có thể xuất hiện những cơn đau như kim châm hoặc như cái gì đó đục vào bộ phận gan.
– Chất dịch trong u ác tính: Phát sinh có chất dịch ở u ác tính trong khoang bụng, màng, trong bộ phận trung tâm.
– Hô hấp gặp khó khăn: Phình chướng làm cho sự hoạt động của các cơ mô giảm mạnh, ảnh hưởng đến khả năng hô hấp, xuất hiện u bướu dịch chuyển lên phổi, làm hoại tử phổi, và hô hấp suy kiệt.
– Xuất huyết đường tiêu hóa: Xuất huyết ít, có biểu hiện màu đen, xuất huyết nhiều có thể dẫn tới ho ra máu.
– Có hiện tượng hôn mê: Nguyên nhân nhận rõ là do xuất huyết tiêu hóa, liên tục bị nhiễm cảm, đi tiểu nhiều lần, chất lượng điện giải kém đi.
4. Bệnh gan dẫn tới các bệnh khác:
– Gan tính não bệnh: Là bệnh nguy hiểm nhất của ung thư gan, chiếm trên dưới 34.9% tỉ lệ người chết do ung thư gan, do ung thư gan đồng thời bị xơ gan nên dẫn đến gạn bị tổn hại ở mức độ nghiêm trọng.
– Xuất huyết đường tiêu hóa: Có tỉ lệ phát bệnh cao nhất, ước tính chiếm 15,1% chết do ung thư gan.
– Triệu chứng gan thận: những bệnh nhân mắc bệnh ung thư gan đều có chứng xơ gan, xuất hiện hiện tượng rối loạn chức năng gan, thường có thế đột ngột hoặc dần dần xuất hiện hiện tượng suy thận như: đi tiểu ít hoặc không đi tiểu, chứng nitơ huyết máu.
– Lây nhiễm: bệnh nhân mắc bệnh gan do các nguyên nhân như: sức đề kháng kém, nằm liệt giường sẽ dễ bị lây nhiễm, nhưng biểu hiện lây nhiễm lại không giống nhau.
– Sốt: Đối với bệnh nhân mắc bệnh ung thư gan, thì hiện tượng bị sốt thường hay gặp, nên duy trì nhiệt độ thấp nhất đến trung bình.
5. Kiểm tra – phòng chống:
Phương pháp kiểm tra, phòng chống bệnh ung thư gan như sau:
* Phương pháp kiểm tra ung thư gan giai đoạn đầu
– CT: dùng máy CT để kiểm tra bệnh ung thư là một trong những phương pháp quan trọng nhất, khả năng phân biệt bằng máy CT tần số cao, khả năng phát hiện ra giai đoạn đầu của ung thư cao đồng thời phản ánh được tình trạng bệnh lý của ung thư ví dụ: vùng tổn thương lớn, nhỏ, vị trí, trạng thái.
– Siêu âm kiểm tra: kiểm tra bằng siêu âm là một trong những phương pháp để chuẩn đoán bệnh ung thư gan, thao tác kiểm tra bằng siêu âm rất thuận tiện, khả năng chuẩn đoán cao, giá thành lại thấp, không có hại cho cơ thể, là một trong những phương pháp kiểm tra thường dùng.
– Cộng hưởng từ: cộng hưởng từ có thể xem được hình ảnh trên diện rộng, kiểm tra độ mẫn cảm cao, có thể chuẩn đoán chính xác đối với một vài vùng tổn thương nhỏ của gan.
– Kiểm tra sinh tiết ung thư gan: trong siêu âm hoặc chụp CT, kiểm tra sinh tiết hoặc mô tế bào thì đạt tới đường kính là dưới 2cm cũng là một phương pháp hiệu quả. Thông qua việc dùng kim chích sâu vào tế bào kiểm tra có thể xác định được tính chất của u bướu trong gan, và cả mức độ phân hóa. Ngoài ra còn phát hiện ra các nguyên nhân trong thời kỳ đầu.
– Đo được hàm lượng apha fetoprotein: Xác định hàm lượng apha fetoprotein cũng là một trong những phương pháp thường gặp, xem có biểu hiện mắc bệnh ung thư gan hay không, kiểm tra bằng anpha fetoprotein có tính mẫn cảm nhất định.
6. Phương pháp phòng chống bệnh ung thư gan:
– Phòng chống viêm gan: tiêm phòng vacxin viêm gan để phòng chống bệnh ung thư gan là một trong những phương pháp có hy vọng nhất, trẻ em hay người trưởng thành đều phải tiêm phòng vacsxin viêm gan B như vậy mới có thế ngăn chặn một số bệnh viêm gan B phát triển thành ung thư gan
– Kiểm tra định kỳ: khả năng mắc bệnh viêm gan B, viêm gan C cao hơn so với những người mắc bệnh ung thư gan khoảng 10- 30 lần. kiểm tra định kỳ với người từ 35 tuổi trở lên biểu hiện mắc bệnh viêm gan B là dương tính, mắc viêm gan, xơ gan 5 năm trở lên. Những người trong gia đình có lịch sử mắc bệnh ung thư gan của ba thế hệ nửa năm kiểm tra định kỳ qua siêu âm và qua anpha fetoportein. Phát hiện sớm giai đoạn đầu của ung thư gan là một trong những biện pháp hiệu quả nhất.
– Tích cực tập luyện: phát sinh bệnh ung thư gan có quan hệ mật thiết với hệ miễn dịch, sinh hoạt hàng ngày phải có quy luật, luyện tập phù hợp vơi cơ thể, duy trì tinh thần lạc quan, có như vậy mới nâng cao được thể chất, nâng cao được sự miễn dịch, phòng trừ được sự phát sinh của xơ gan và ung thư gan.
– Cách xa những chất gây ung thư: không ăn những thực phẩm bị mốc, độc tố trong nấm Aflatoxin là chất gây ung thư. Chất gây ung thư của độc tố aflatoxin trong nấm cao hơn 75 lần so với các chất gây ung thư nitrosamine đã được công nhận, ăn thức ăn bị mốc rất dễ gây ung thư gan.
– Không ăn dầu động thực vật biến chất: trong loại dầu cũ có chứa chất Malondialdehyde, đây là thành phần hóa học, nó có thể sản sinh ra polime phản ứng với protein và Deoxyribonucleic acid trong cơ thể con người làm cho kết cấu của protein thay đổi, dẫn đến tế bào của protein bị mất đi chức năng thông thường và làm cho giai đoạn đầu của ung thư bị chuyển hóa.
– Không nên uống quá nhiều rượu: mức độ tổn thương của bệnh gan do rượu cồn có mối quan hệ mật thiết với tửu lượng, thời gian uống và cách uống rượu hằng ngày. Acetaldehyde rất độc hại đối với cơ thể, có thể dẫn đến tổn thương tế bào, tích mỡ trong tế bào gan, chứng viêm tế bào gan, cuối cùng có thể dẫn đến tê cứng gan, một bộ phận của gan bị cứng sẽ chuyển biến thành ung thư gan.
– Ăn ít những đồ ăn nhiều giàu mỡ hay nướng: protein khi gặp nhiệt độ cao sẽ bị biến chất, có nguy cơ dẫn đến các bệnh ung thư.
– Không những thực phẩm có chứa phẩm màu hỗn hợp: tốt nhất không nên ăn những thực phẩm có chứa chất chống phân hủy, phẩm màu tổng hợp hay những chất do con người tự làm vì những thực phẩm này có thể dẫn đến bệnh ung thư gan
7. Phương pháp điều trị:
7.1 Phẫu thuật cắt bỏ một phần của gan.
Bác sĩ có thể đề nghị cắt bỏ một phần để loại bỏ ung thư gan và một phần nhỏ các mô bao quanh nó nếu khối u của bạn là nhỏ và chức năng gan của bạn là tốt.
7.2 Phẫu thuật cấy ghép gan.
Trong khi phẫu thuật ghép gan, lá gan của bạn bị loại bỏ và thay thế bằng một lá gan khỏe mạnh từ một người hiến gan. Phẫu thuật ghép gan có thể là một lựa chọn cho một số người mắc bệnh ung thư gan giai đoạn đầu.
7.3 Đông lạnh tế bào ung thư.
Sử dụng cực lạnh để tiêu diệt các tế bào ung thư, bác sĩ đặt một dụng cụ (cryoprobe) có chứa nitơ lỏng trực tiếp vào khối u gan. Hình ảnh siêu âm được sử dụng để hướng dẫn cryoprobe và theo dõi tình trạng đóng băng của các tế bào.
7.4 Làm nóng các tế bào ung thư.
Trong một thủ tục gọi là cắt bỏ tần số vô tuyến, dòng điện được sử dụng để làm nóng và tiêu diệt các tế bào ung thư. Sử dụng siêu âm hoặc CT scan làm hướng dẫn, bác sĩ phẫu thuật của bạn chèn một hoặc nhiều kim mỏng vào vết rạch nhỏ ở bụng của bạn. Khi kim đạt được khối u, họ đun nóng với một dòng điện, phá hủy các tế bào ung thư.
7.5 Tiêm chích rượu vào trong khối u. (chích ethanol)
Trong quá trình tiêm rượu, cồn nguyên chất được tiêm trực tiếp vào các khối u, hoặc thông qua da hoặc trong quá trình hoạt động. Rượu gây ra các tế bào ung thư chết.
7.6 Tiêm chích loại thuốc hóa trị vào gan.
Chemoembolization là một loại điều trị hóa trị liệu cung cấp các loại thuốc chống ung thư mạnh trực tiếp đến gan. Trong thủ tục, các loại thuốc hóa trị được tiêm vào động mạch gan – động mạch mà từ đó ung thư gan lấy được nguồn cung cấp máu của họ và sau đó động mạch bị chặn. Điều này có tác dụng cắt giảm lưu lượng máu đến các tế bào ung thư và cung cấp các loại thuốc hóa trị cho các tế bào ung thư.
Vị trí sáng màu: tế bào ung thư
7.7 Xạ trị :
Điều trị này sử dụng chùm năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư và thu nhỏ các khối u. Trong quá trình điều trị xạ trị, bạn nằm trên bàn và máy sẽ hướng các chùm tia năng lượng tại một điểm chính xác trên cơ thể của bạn. Xạ trị cho bệnh nhân ung thư gan có thể liên quan đến một kỹ thuật gọi là Stereotactic xạ đồng thời tập trung các chùm tia bức xạ tại một thời điểm trong cơ thể. Bức xạ tác dụng phụ có thể bao gồm mệt mỏi, buồn nôn và nôn.
Xạ trị ở bệnh nhân ung thư gan
Điều trị bệnh ung thư bằng thuốc nhắm mục tiêu. Sorafenib (Nexavar) là một loại thuốc nhắm mục tiêu thiết kế để can thiệp vào khả năng của một khối u để tạo ra các mạch máu mới. Sorafenib đã được hiển thị để làm chậm hoặc ngăn chặn ung thư biểu mô tế bào gan tiến triển trong một vài tháng còn hơn so với không điều trị tiên tiến. Nhiều nghiên cứu cần thiết để hiểu làm thế nào điều này và các liệu pháp nhắm mục tiêu khác có thể được sử dụng để kiểm soát ung thư gan tiến triển.
7.8 Bệnh nhân ung thư gan được chữa trị tại Bệnh viện ung bướu hiện đại.
Ung thư gan nguyên phát và ung thư gan thứ phát là một trong những ung thư xảy ra với tần suất cao tại Việt Nam. Ngoài các phương pháp điều trị ung thư kinh điển như phẫu thuật, hóa trị toàn thân, xạ trị hoặc hủy u bằng chích ethanol, các phương pháp mới như TACE hoặc RFA hiện được áp dụng trên thế giới và tại Việt Nam và đã chứng minh hiệu quả trong điều trị. Mỗi phương pháp có những ưu điểm riêng.
Nếu kết hợp hoá trị liệu (chimiothérapies) với sóng ra-điô tạo nhiệt (radiofrequence thermale) thì có thể kéo dài đời sống của các bệnh nhân bị ung thư gan quá nặng không thể làm phẫu thuật được. Phép trị liệu này có thể làm chậm sự phát triển của ung thư nhờ vào sự kết hợp giữa tác dụng chặn đứng máu không cho chạy tới khối u của hóa trị liệu TACE và sự cắt bỏ các mô ung thư với kỹ thuật chiếu xạ ra-điô tạo nhiệt RFA.
8. Chế độ dinh dưỡng: Một chế độ ăn được cho là tối ưu với cả bệnh nhân mắc bệnh gan cũng như không mắc bệnh gan bao gồm:
– 60 – 70% carbonhydrate – tổng carbonhydrate cơ bản như mì ống và bánh mì làm từ ngũ cốc.
– 20 – 30% protein từ thịt nạc động vật hay protein từ thực vật.
– 10 – 20% mỡ đa không bão hòa.
– Từ 8 – 12 ly nước mỗi ngày (loại 200 – 250ml).
– Không dùng quá nhiều vitamin và khoáng chất, đặc biệt là vitamin A, B3 và sắt.
– Không nên uống bia, rượu.
– Không nên ăn những thực phẩm chế biến sẵn.
– Sử dụng thoải mái trái cây và rau tươi.
– Không dùng cafein quá mức.
– Bổ sung Vitamin D, C và canxi.
8.1 Những thức ăn và đồ uống nên dùng khi đang điều trị ung thư gan
– Sữa và sữa chua: Một kết quả nghiên cứu do bác sĩ Renato Talamini thuộc Viện nghiên cứu U bướu ở Aviano, Ý thực hiện đã đưa ra kết luận rằng việc uống sữa và ăn sữa chua đã làm giảm khả năng phát triển bệnh ung thư gan, đồng thời cải thiện cơ hội phục hồi từ căn bệnh nguy hiểm này.
– Thịt trắng (có trong thịt gà, thịt vịt …): Đã có rất nhiều kết quả nghiên cứu khác nhau trên thế giới khẳng định việc tiêu thụ các loại thịt trắng thay cho thịt đỏ sẽ giúp cơ thể chống chọi với bệnh ung thư gan tốt hơn.
– Rau xanh: Ăn từ 7 đến 9 bữa rau xanh và trái cây mỗi ngày. Hãy cố gắng ăn thật nhiều các loại trái cây tươi và rau xanh, đặc biệt là những loại có chứa lượng vitamin C, B và các chất chống ô-xy hóa ở mức cao. Tất cả các kết quả nghiên cứu đều cho thấy những người sử dụng nhiều những loại rau có màu vàng và cam (như bí ngô, khoai lang…) và các loại rau có hình chữ thập (như bông cải xanh) đều giúp làm giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh ung thư gan so với những người không ăn các loại rau này thường xuyên.
– Trà: Tất cả các loại trà đều có chứa các chất chống ô-xy hóa, nhưng trà xanh được đánh giá là có khả năng xuất sắc trong việc phòng chống bệnh ung thư.
– Những thực phẩm giàu chất xơ: Cần cố gắng tăng cường những thực phẩm và bột ngũ cốc giàu chất xơ vào khẩu phần ăn hàng ngày. Bột yến mạch, các loại cây họ đậu và đậu khô… đều được xem là những thực phẩm có khả năng đánh bại bệnh ung thư.
– Nước ép lựu: Loại nước ép này chính là đối tượng của nhiều cuộc nghiên cứu về khả năng phòng ngừa ung thư. Chúng đã chứng minh có hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh ung thư gan.
– Dầu ô-liu: Dầu ô-liu là lựa chọn phù hợp nhất trong trường hợp bạn muốn dùng dầu ăn để chế biến, nấu nướng các món ăn. Bên cạnh yêu cầu sử dụng các loại chất béo ở mức hạn chế khi đang điều trị bệnh, dầu ô-liu còn được cho là có khả năng phòng ngừa bệnh ung thư gan.
– Cá nướng: Cá cung cấp lượng chất béo lành mạnh và không làm căn bệnh ung thư gan trở nên trầm trọng hơn. Đây còn là nguồn cung cấp protein có lợi cho cơ thể, vốn rất cần thiết cho những bệnh nhân ung thư.
8.2 Những thực phẩm cần tránh khi đang phải điều trị ung thư gan:
– Các loại chất béo động vật và chất béo trans (Tỉ lệ chất béo trans là khoảng 5% trong các thực phẩm có nguồn gốc từ động vật so với 60% chất béo trong thực vật được hidro hóa bởi các qui trình công nghiệp. Axit béo dạng trans chủ yếu là axit béo nhân tạo). Nên cố gắng tránh xa các loại chất béo càng nhiều càng tốt. Cả hai loại chất béo này đều ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, đặc biệt là trong giai đoạn đang phải điều trị ung thư. Do đó, cần loại bỏ các món chiên, xào, rán có nhiều dầu trong chế độ ăn uống của bạn.
– Thịt đỏ: (thịt bò, thịt heo, thịt dê cừu, thịt ngựa, đồ lòng như tim, óc, gan, thận, lá lách, bao tử, phổi, dồi trường (tử cung heo tơ), ngầu pín, dịch hoàn…). Hãy hạn chế việc tiêu thụ thịt đỏ ở mức tối đa một lần mỗi tuần.
– Chất cồn: Mặc dù rượu vang đỏ được khuyến khích sử dụng đối với những người đang khỏe mạnh, nhưng ở những người đã được chẩn đoán mắc bệnh ung thư gan cần hạn chế việc dùng tất cả những thức uống có chứa chất cồn vì gan của bạn đang phải làm việc rất căng thẳng để đấu tranh với bệnh ung thư và chịu đựng những phương pháp điều trị khắc nghiệt.
8.3 Thực hiện những thay đổi trong cách sống để ngăn ngừa bệnh ung thư gan
– Tập thể dục thường xuyên và luôn giữ cho trọng lượng cơ thể nằm ở mức lành mạnh. Những người có chỉ số khối cơ thể BMIs được xếp ở mức lành mạnh thường ít bị ung thư gan hơn so với những người có chỉ số BMIs được xếp ở mức thừa cân hoặc béo phì. Cần tập thể dục (ngay cả việc đi dạo) hàng ngày và hạn chế lượng calo nạp vào một cách phù hợp.
– Bổ sung vitamin C, E và selen. Các nhà khoa học đều khẳng định rằng tất cả các loại vitamin và khoáng chất được bổ sung vào cơ thể sẽ quyết định phần nào khả năng ngăn ngừa căn bệnh ung thư gan.
– Bỏ thuốc lá. Hút thuốc lá, đặc biệt là khi bạn vẫn còn có thói quen uống những thức uống có chất cồn, có thể làm bệnh ung thư gan trở nên trầm trọng hơn.
9. Hỏi đáp:
Câu hỏi: Ung thư gan có thể chữa được không?
Trả lời:
Đây là vấn đề mà tất cả những bệnh nhân gan đều quan tâm, bởi vì rất nhiều bệnh nhân nghi ngờ về khả năng điều trị bệnh, đối với bệnh ung thư gan, bệnh nhân gần như mất đi tâm trạng, vậy chính xác thì có khả năng chữa ung thư gan không? Ung thư gan là bệnh thường gặp, loại bệnh này nếu không kịp thời khống chế sẽ ảnh hưởng vô cùng lớn tới cuộc sống sau này.
Hiện nay do kỹ thuật y học của chúng ta hạn chế, việc điều trị bệnh ung thư gan vẫn vô cùng khó khăn vì vậy đối với bệnh nhân gan mà nói để chống lại được sự phát triển của ung thư gan là vô cùng quan trọng. Đặc biệt là với bệnh nhân viêm gan B, xơ gan, gan nhiễm mỡ những người nên chú ý phòng chống viêm gan B.
Thông thường thì đại bộ phận bệnh nhân ung thư gan đều có tiểu sử viêm gan, xơ gan. Phòng bệnh ung thư gan tốt nhất là sớm phát hiện và sớm trị bệnh. Sớm phát hiện ra triệu chứng ung thư giai đoạn đầu, sớm điều trị, sẽ có thể giúp bệnh tình phát triển ổn định hơn, hoặc nâng cao khả năng chữa khỏi bệnh trong giai đoạn đầu. Vì vậy tránh bệnh tình xấu đi thành ung thư, khi phát hiện ra viêm gan lập tức đến bệnh viện kiểm tra và căn cứ vào tình hình bệnh cụ thể của bản thân mà tiến hành điều trị.
Câu hỏi: Bệnh nhân ung thư gan sống được bao lâu?
Trả lời:
Hầu hết, các chuyên gia về ung thư không thể đưa ra tuổi thọ chung cho những bệnh nhân ung thư gan. Tuổi thọ của người bệnh phụ thuộc vào thời điểm phát hiện bệnh, mức độ tổn thương của gan, tình trạng sức khỏe, chỉ số AFP, phương pháp điều trị và trạng thái tinh thần của bệnh nhân. Các bác sĩ sẽ đánh giá tình trạng bệnh nhân qua các yếu tố này và dự đoán người bệnh có thể sống được bao lâu.
a. Thời điểm phát hiện bệnh
Bệnh nhân có thời gian sống trung bình từ khi phát hiện khoảng 6 tháng, chỉ có khoảng 1 % người ung thư gan có nguy cơ sống sót sau 5 năm. Nếu được phát hiện sớm, khối u còn nhỏ, bệnh được khống chế kịp thời, nhờ đó bệnh nhân có thể sống lâu hơn. Nếu chẩn đoán quá muộn khi ung thư đã bước vào giai đoạn cuối thì thường bệnh nhân chỉ có thể sống thêm 3 – 6 tháng nữa.
Do đó, để phát hiện sớm ung thư gan, những người mắc viêm gan B, C, xơ gan, uống nhiều rượu bia hoặc trong gia đình từng có người bị ung thư gan nên siêu âm gan và xét nghiệm máu 6 tháng hoặc 1 năm/lần nhằm phát hiện bệnh sớm và có điều trị kịp thời.
b. Chỉ thị ung thư AFP
AFP (Alpha – Fetoprotein) là chỉ số có giá trị nhất để chẩn đoán và theo dõi điều trị ung thư gan. Trong chẩn đoán, nồng độ AFP càng cao thì khối u càng lớn và tiên lượng bệnh càng xấu.
Ung thư gan tiên phát có nồng độ AFP tăng hơn 400 ng/ml (hoặc >500 ng/ml) hay > 1.000 ng/ml, đôi khi 10.000 ng/ml hay 1.000.000 ng/ml trong huyết thanh. Ung thư gan thứ phát hay di căn của một ung thư khác vào gan có AFP tăng vượt quá 400 ng/ml (hoặc 500 ng/ml) trong huyết thanh. Nếu nồng độ này không giảm hoặc tăng thêm khi điều trị và tăng lên sau điều trị thì tiên lượng bệnh cũng rất xấu, tuổi thọ người bệnh càng ngắn.
Tuy nhiên, AFP cũng chưa phải là yếu tố quyết định vì có trường hợp ung thư nghiêm trọng nhưng vẫn có lượng AFP bình thường và ngược lại có trường hợp AFP bất thường nhưng không phải ung thư gan. Lúc này, bác sĩ sẽ dựa vào các xét nghiệm, chẩn đoán khác.
c. Tình trạng sức khỏe và tinh thần của bệnh nhân
Người bệnh có thể trạng tốt hay không, có cảm thấy mệt mỏi hay không, chế độ dinh dưỡng, nghỉ ngơi cũng quyết định nhiều đến việc liệu họ có thể sống thêm bao lâu nữa. Thêm vào đó, bệnh nhân ung thư gan cần kiên trì điều trị, nuôi dưỡng các thói quen sinh hoạt tốt, tâm lý thoải mái, tích cực, lạc quan cũng giúp kéo dài thời gian sống.
d. Phương pháp điều trị
Bên cạnh việc chẩn đoán sớm thì điều trị sớm và thích hợp với giai đoạn khối u cũng quyết định đến tuổi thọ của bệnh nhân ung thư gan.
– Thắt động mạch gan: Làm khối u nhỏ lại nhưng ít khi mất hẳn, bệnh nhân ăn được, ngủ được, lên cân, giảm đau. Tuy vậy, phương pháp này cho kết quả thất thường và nhiều bệnh nhân chết trong năm đầu sau mổ.
– Xạ trị: Phương pháp chiếu xạ từ ngoài vào giúp bệnh nhân giảm triệu chứng sau điều trị nhưng phần lớn bệnh nhân chết trước 6 tháng. Còn điều trị bằng đồng vị phóng xạ trong gan cho tỷ lệ đáp ứng với điều trị là 40% nhưng tuổi thọ thường dưới 1 năm.
– Hóa trị liệu: Cho tỷ lệ sống 1 năm sau điều trị là khoảng 10 – 15% và 3 năm là 5%. Ghép gan làm tăng cơ hội sống sót được 1 năm đến hơn 80% và tỉ lệ sống 5 năm là 75%. Tuy nhiên, hạn chế đối với ghép gan hiện nay là chất lượng và số lượng nguồn gan ghép còn rất hạn chế.
Câu hỏi: Phương pháp điều trị nhiệt nội sinh là phương pháp gì? Có áp dụng trong điều trị ung thư gan được không?
Trả lời:
– Hai dòng điện lưu tần suất khác nhau trực tiếp giao thoa trong cơ thể người sản sinh ra nhiễu từ trường, khiến nhiệt độ trong khối u gia tăng lên tới 42.5 ~ 43.5 độ C và duy trì như vậy trong 40 phút. Sự thay đổi nhiệt độ này làm cản trở sự sinh trưởng và giết chết các tế bào Ung thư. Ngoài việc có thể trực tiếp gây hiệu ứng đến các tế bào Ung thư, liệu pháp này còn có thể nâng cao hiệu quả hóa xạ trị, nâng cao hệ miễn dịch của cơ thể, ức chế khối u di căn.
– Nguyên lý: Mạch máu trong khối u gấp khúc và phình to cản trở đến sự lưu thông máu, hệ thống cảm thụ của mạch máu chưa kiện toàn, kém mẫn cảm với nhiệt độ, khó tản nhiệt và nhiệt lượng dễ bị tập trung, nhiệt độ cao hơn các tổ chức thông thường khác 5~10 độ; các tế bào bình thường có thể chịu được nhiệt độ khoảng 42.5 ~43.5 độ C. Hệ thống điều trị nhiệt nội sinh tiêu diệt tế bào Ung thư bằng cách gia nhiệt nhưng lại không gây ảnh hưởng nên tế bào lành lặn, không có các phản ứng ức chế tủy hay rụng tóc.
– Tại sao nhiệt độ cao lại có thể giết chết tế bào Ung thư?
1. Nhiệt độ cao khiến màng tế bào Ung thư bị phá hoại trước tiên, đồng thời cũng ức chế sự hợp thành của các AND, RNA và protein, khiến khối u bị ức chế tăng trưởng, dẫn đến hoại tử.
2. Nhiệt độ cao khiến cho các lysosome trong tế bào tăng hoạt tính, acid hydrolase phóng thích lượng lớn, khiến màng tế bào bị phân liệt, tràn tế bào chất, các tế bào ung thư sẽ bị hoại tử.
3. Nhiệt độ cao ức chế các tế bào ung thư trao đổi khi, dẫn đến gia tăng hiện tượng yếm khí glycolysis, tích lũy lactate, độ acid tăng cao cũng thúc đẩy Lysosome tăng hoạt tính, cuối cùng khiến tế bào bị hoại tử.
4. Nhiệt độ cao bảo vệ, kích hoạt và tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, đồng nghĩa với việc nâng cao khả năng tiêu diệt tế bào ung thư tự thân. Về điểm này, các phương pháp truyền thống như hóa xạ trị, thậm chí là phẫu thuật cũng không cách nào làm được.
– Ưu điểm
1. Tác dụng phụ không rõ rệt
2. Hệ thống máy tính điều chỉnh chính xác nhiệt độ
3. Gia nhiệt trực tiếp trên bề mặt cơ thể và sâu bên trong khối u
4. Phối hợp với hóa xạ trị nâng cao hiệu quả điều trị.
– Ứng dụng lâm sàng
1. Các khối u bề mặt cơ thể
2. Dịch lồng ngực, ổ bụng ác tính
3. Khối u nằm ở vị trí sâu trong lồng ngực, ổ bụng
4. Ung thư thực quản, Ung thư phổi, Ung thư dạ dày, Ung thư đại tràng, Ung thư gan, Ung thư buồng trứng, Ung thư tử cung…
Nguyên Cố vấn cao cấp Trung tâm Ung bướu – Tế bào gốc, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Huyết học – Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa
Nguyên là Phó Trưởng khoa Tai – Tai Thần kinh – Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương.
Hiện nay Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa có lịch thăm khám và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa An Việt
Bác sĩ Chuyên khoa Ung bướu – Nội tiết
Chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tuyến giáp ở Việt Nam
Chủ tịch CLB người bệnh ung thư tuyến giáp và các bệnh lý tuyến giáp
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 500.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 250.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 300.000đ |