Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
1. Nguyên nhân
– Sỏi mật, viêm túi mật: là những yếu tốt nguy cơ phổ biến đối với ung thư túi mật . Ở đó, sỏi mật là u cứng, nhỏ như đá, hình thành trong túi mật. Chúng thường được tạo thành từ cholesterol trộn với các chất khác trong mật. 8 trong số 10 người bị ung thư túi mật (80%) có sỏi mật hoặc túi mật bị viêm khi chẩn đoán.
– Sứ túi mật: Sứ túi mật là tình trạng các vách bên trong túi mật bị bao phủ bởi lớp canxi. Sứ túi mật có thể hình thành do tình trạng viêm túi mật hoặc sỏi mật diễn ra trong thời gian dài.
– Giới tính: Tại Mỹ, lượng bệnh nhân nữ được chẩn đoán mắc ung thư túi mật cao gấp đôi so với nam giới. Đặc biệt, các vấn đề khác như sỏi mật, viêm túi mật cũng có xu hướng xuất hiện ở phụ nữ nhiều hơn.
– Béo phì: Con số thống kê chỉ ra, bệnh nhân ung thư túi mật thường bị thừa cân, béo phì nhiều hơn so với người không dính dáng tới căn bệnh này. Ngoài việc gây ung thư nguy hiểm, béo phì còn là yếu tố làm tăng nguy cơ sỏi mật.
– Tuổi tác: Không chỉ ung thư túi mật, tuổi tác còn là yếu tố làm tăng nguy cơ nhiều loại ung thư khác. Rất có thể, sự suy giảm hệ miễn dịch góp phần gây nên tình trạng này.
– Yếu tố dân tộc: Nguy cơ phát triển ung thư túi mật là khác nhau với những người sống ở vùng khác nhau trên thế giới. Chẳng hạn, người dân bắc Ấn Độ có tỷ lệ mắc ung thư túi mật cao nhất thế giới. Các nước khác như Israel, Chile, Ecuador, Pakisan cũng có nguy cơ mắc bệnh khá cao.
– Polyp túi mật: Polyp túi mật là những tăng trưởng nhỏ không phải là ung thư, lồi khỏi bề mặt niêm mạc bên trong túi mật. Polyp có kích cỡ lớn hơn 1cm có khả năng gây ung thư cao. Vì lý do này, các bác sĩ khuyên những đối tượng được phát hiện có polyp kích thước lớn nên loại bỏ túi mật nhằm ngăn ngừa hậu họa.
– Viêm xơ đường mật nguyên phát (PSC): Hiện nguyên nhân gây viêm xơ đường mật vẫn chưa được xác định. Tuy nhiên, việc mắc chứng bệnh này được xem là yếu tố làm gia tăng nguy cơ ung thư túi mật, ống mật, viêm loét đại tràng và viêm ruột.
– Tiếp xúc với hóa chất độc hại: Kết quả nghiên cứu tiết lộ, hợp chất nitrosamine có khả năng làm tăng nguy cơ ung thư túi mật. Bên cạnh đó, người lao động ngành công nghiệp cao su, dệt may cũng có nguy cơ mắc bệnh cao. Dù vậy, vẫn cần nghiên cứu kỹ lưỡng hơn trước khi đưa ra kết luận cuối cùng.
– Người từng bị thương hàn: Các nhà khoa học khẳng định người từng bị bệnh mãn tính do vi khuẩn salmonella (vi khuẩn gây bệnh thương hàn), người mang mầm bệnh có khả năng mắc ung thư túi mật cao hơn so với người không dính dáng đến chúng.
– Tiền sử gia đìn: Các chuyên gia sức khỏe cho biết, việc có người thân từng mắc bệnh khiến nguy cơ mắc ung thư túi mật cao hơn nhiều. Dù vậy, ngay cả khi nguy cơ tăng lên gấp 5 lần thì nguy cơ vẫn còn rất nhỏ.
2. Triệu chứng
– Triệu chứng đường tiêu hóa: đại đa số bệnh nhân (90%) xuất hiện hiện tượng rối loạn tiêu hóa, sợ dầu mỡ, ợ hơi, dạ dày hẹp…, những điều này là do chức năng túi mật bị giảm sút, không thể tiêu hóa chất béo gây ra.
– Đau vùng bụng trên bên phải: 80% số bệnh nhân trở lên bị đồng thời bệnh sỏi mật, vì vậy mà xuất hiện triệu chứng giống như sỏi mật hay viêm túi mật, chủ yếu là đau âm ỉ kéo dài ở vùng bụng trên bên phải, đôi khi kèm theo những cơn đau bột phát kéo dài lan đến vai phải.
– Khối u vùng bụng trên bên phải: khoảng một nửa số bệnh nhân xuất hiện khối u vùng thượng vị phải, làm kích thước của túi mật tăng lên rõ rệt.
– Vàng da, ngứa da: luôn luôn xuất hiện ở bệnh nhân giai đoạn cuối, do tổ chức ung thư xâm lấn đến ống mật hoặc di căn đến hạch bạch huyết, chèn ép lên ống mật, dẫn đến cản trở ống mật, gây ra hiện tượng ngứa và vàng da, dịch gan tiết vào đường ruột khó khăn, ngược lại chảy vào máu gây ra vàng da. Đa số hiện tượng vàng và ngứa da khó xử lý hết được, hơn nữa những hiện tượng này nặng hơn về ban đêm.
– Sốt và giảm cân: có khoảng 25% số bệnh nhân sẽ xuất hiện triệu chứng sốt cao, chủ yếu do bị nhiễm trùng ống mật. Bệnh nhân giai đoạn cuối thường gầy đi nhanh, thậm chí thể chất suy mòn kiệt quệ.
3. Điều trị
– Mục đích là để giải quyết khối ung thư và hậu quả tắc nghẽn đường mật do nó gây ra.
– Nếu tình trạng bệnh nhân cho phép, việc phẫu thuật cắt bỏ khối u là phương pháp điều trị chọn lựa, có thể giúp chữa lành bệnh.
– Nếu khối u quá lớn, có thể cắt bỏ toàn bộ gan và ghép gan.
Tuy nhiên, khối ung thư đường mật thường đã lan rộng vào thời điểm được chẩn đoán.
– Hóa trị hoặc xạ trị có thể được sử dụng sau phẫu thuật để giảm nguy cơ ung thư tái phát.
– Tuy nhiên lợi ích của các liệu pháp này không rõ rệt lắm khi phẫu thuật đã lấy trọn được khối u, và sinh thiết ở vùng bờ cắt là âm tính.
– Đa số các trường hợp ung thư đường mật đều đến khám ở giai đoạn quá chỉ định phẫu thuật, do đó bệnh nhân thường chỉ được điều trị bằng hóa trị liệu giảm nhẹ, có hoặc không kèm xạ trị.
– Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, hóa trị đã được chứng minh là cải thiện chất lượng sống và kéo dài sống còn ở những bệnh nhân ung thư đường mật quá chỉ định phẫu thuật. – – Các thuốc hóa trị thường được dùng để điều trị ung thư đường mật bao gồm 5-fluorouracil + leucovorin, gemcitabine dùng đơn độc, hay gemcitabine kết hợp với cisplatin, irinotecan, hoặc capecitabine.
– Một thử nghiệm nhỏ cho thấy erlotinib, một chất ức chế tyrosine kinase có thể có ích đối với những bệnh nhân ung thư đường mật giai đoạn tiến triển.
– Ở những bệnh nhân không thể cắt bỏ được khối u, nội soi điều trị kèm đặt giá đỡ (stent) có thể tạm thời giúp giảm tắc nghẽn trong đường mật và giảm vàng da. Liệu pháp quang động (photodynamic) bằng chiếu tia Laser nội soi kết hợp với các thuốc hóa trị kích hoạt bằng ánh sáng (light-activated chemotherapy medications) là một chọn lựa cho những bệnh nhân tắc nghẽn đường mật.
– Liệu pháp quang động cho thấy có cải thiện về tỉ lệ sống còn và chất lượng sống.
Nguyên Cố vấn cao cấp Trung tâm Ung bướu – Tế bào gốc, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Huyết học – Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa
Nguyên là Phó Trưởng khoa Tai – Tai Thần kinh – Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương.
Hiện nay Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa có lịch thăm khám và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa An Việt
Bác sĩ Chuyên khoa Ung bướu – Nội tiết
Chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tuyến giáp ở Việt Nam
Chủ tịch CLB người bệnh ung thư tuyến giáp và các bệnh lý tuyến giáp
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 500.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 250.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 300.000đ |