Viên Uống Cân Bằng Nội Tiết Tố STARS QUEEN – GLA (Hộp 30 Viên) [Chính Hãng Pháp]
THÀNH PHẦN – Oxyde de zinc…………………15mg – Vitamine B6…………………..12.5mg – Oxyde de magnesium……………25mg – Vitamine…
1. Khái niệm:
Ung thư tuyến giáp là do tổ chức mô của tuyến giáp bị ung, là nguyên nhân dẫn tới tế bào biểu mô tuyến giáp có ung bướu, theo phân loại bệnh lý có thể phân loại gồm ung thư tuyến giáp thể nhú và ung thư biểu mô tuyến giáp.
2. Nguyên nhân:
Còn nhiều điểm chưa rõ ràng nhưng các yếu tố có liên quan đến xuất hiện bệnh là:
+ Tuổi: Có thể gặp Ung thư tuyến giáp ở mọi lứa tuổi, nhưng hay gặp ở lứa tuổi 7-20 và 40-65.
+ Giới: Nữ giới mắc bệnh nhiều hơn Nam giới 2-3 lần.
+ Nơi sinh sống:
– Tại những khu vực có bệnh Bướu cổ địa phương thì tỉ lệ mắc bệnh Ung thư tuyến giáp cao hơn các khu vực khác.
– Bệnh nhân ở gần biển (ăn uống có đủ Iot) khi có Bướu giáp thể nhân thì nguy cơ bướu là ác tính cao hơn các vùng khác.
– Tại những khu vực bị nhiễm xạ thì tỉ lệ mắc Ung thư tuyến giáp cao hơn các vùng khác.
+ Tiền sử đã có dùng tia xạ điều trị các bệnh lành tính khác ở vùng đầu mặt cổ thì khi có Bướu giáp nhân sẽ có nguy cơ cao bị ác tính.
+ Di truyền: Ung thư tuyến giáp thể tuỷ thường có tính chất gia đình. Đặc biệt, loại đa ung thư nội tiết tip II có Ung thư tuyến giáp thể tuỷ kèm U tuỷ thượng thận và có thể có U ở các tuyến nữa… đã được xác định là có tính di truyền.
+ Các nguyên nhân khác: Ngoài những nguyên nhân quan trọng được kể ở trên, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra rất nhiều nguyên nhân khác gây nên bệnh ung thư tuyến giáp: Thiếu iot, thừa cân, nghiện rượu, nghiện thuốc lá…
3. Triệu chứng:
* Đặc điểm chung:
Đại đa số ung thư tuyến giáp đều tiến triển âm thầm, chậm chạp và kéo dài nên bệnh nhân thường không nhận thấy được ngay những thay đổi của toàn thân, vẫn lao động và sinh hoạt bình thường. Cho đến khi xuất hiện những rối loạn tại chỗ do u chèn ép, xâm lấn (gây khó thở và không ăn uống được), khối u hoại tử, bội nhiễm và loét thì tình trạng toàn thân mới sa sút nặng.
* Các triệu chứng sớm:
+ Khối U: Thường do bệnh nhân hay người nhà tình cờ phát hiện ra. U to ra dần, di động theo nhịp nuốt, có thể nằm ở bất cứ vị trí nào của tuyến giáp. Thường chỉ có một nhân đơn độc nhưng cũng có khi có nhiều nhân và nằm ở cả hai thuỳ tuyến giáp. Mật độ thường chắc. Bề mặt thường gồ ghề.
+ Hạch cổ: Có khi u chưa sờ thấy được nhưng đã có hạch cổ to. Tuy nhiên, những triệu chứng sớm này khó phân biệt với một bướu lành tính, do đó khi có hạch cổ kèm theo khối u với những tính chất như trên thì luôn phải cảnh giác và tìm các biện pháp chẩn đoán xác định ung thư sớm.
* Các triệu chứng muộn:
+ Khối U: Có khi khá lớn, lấn ra phía trước, ra sau, lên hai cực trên sát hai góc hàm và xuống dưới vào trong trung thất. Bề mặt thường gồ ghề, mật độ có chỗ cứng chắc có chỗ mềm. Đặc biệt, khối U dính chặt và xâm lấn vào các cơ quan vùng cổ nên ranh giới không rõ và khả năng di động kém. Có khi khối u xâm nhiễm và loét sùi qua da vùng cổ, gây chảy máu và bội nhiễm tại chỗ.
+ Khàn tiếng, khó thở, khó nuốt, nuốt nghẹn. . . ở các mức độ khác nhau do khối u phát triển xâm lấn và chèn ép các cơ quan xung quanh. Các triệu chứng này gặp với tỉ lệ cao và sớm, nhất là ở ung thư thể không biệt hoá.
+ Cảm giác vướng tức, bó chặt ở vùng cổ: Là triệu chứng thường gặp. Có khi cảm giác đau tức tại u lan lên góc hàm, mang tai cùng bên do U chèn ép và kích thích đám rối thần kinh cổ.
+ Hạch to ở vùng cổ (dọc hai bên khí quản, theo các bờ trong, ngoài và sau hai cơ ức đòn chũm, góc hàm, hố thượng đòn. . . ).
4. Triệu chứng cận lâm sàng:
4.1 Chụp X. quang:
+ Thường chụp X. quang vùng cổ 2 tư thế (thẳng và nghiêng) không chuẩn bị hoặc có uống cản quang thực quản.
+ Xác định được hình ảnh khối U chèn ép khí quản và thực quản, hình khối U phát triển vào trung thất hoặc có di căn vào phổi (nếu có).
4.2 Chụp xạ hình tuyến giáp:
+ Thường dùng I131 phóng xạ để chụp tuyến giáp. Hiện nay nhiều nơi còn dùng những kháng thể đơn dòng có gắn đồng vị phóng xạ để chụp xạ hình tuyến giáp nhằm phát hiện Ung thư tuyến giáp và các ổ di căn nhỏ.
4.3 Siêu âm tuyến giáp:
+ Siêu âm thường được tiến hành sau khi đã khám lâm sàng và chụp xạ hình tuyến giáp.
+ Xác định được U là đặc hay Nang, đo được kích thước, thể tích và trọng lượng của U và tuyến giáp.
4. Chụp cắt lớp vi tính (CT) và c4hụp cộng hưởng từ (MRI):
+ Xác định được vị trí, hình dạng, kích thước…của khối Ung thư tuyến giáp.
+ Xác định được mức độ chèn đẩy, xâm lấn, tương quan giải phẫu… của khối Ung thư với các cơ quan xung quanh như: Khí quản, thực quản, các mạch máu…
4.5 Tế bào học:
+ Bằng sinh thiết hút kim nhỏ là một phương pháp chẩn đoán đơn giản, nhanh chóng, rẻ tiền.
+ Có thể chọc hút cả khối U và Hạch cổ, chọc nhiều vị trí và chọc nhiều lần để chẩn đoán chính xác hơn.
4.6 Xét nghiệm giải phẫu bệnh lý:
Đây là xét nghiệm cho giá trị chẩn đoán quyết định Ung thư tuyến giáp cả về bệnh lý và các type mô bệnh học. Tuy nhiên chỉ làm được sau khi đã mổ cắt hoặc sinh thiết khối U.
4.7 Xét nghiệm tìm chất đánh dấu khối U:
Các “chất đánh dấu khối U” là các chất đặc biệt do các khối U tiết ra mà bình thường không có trong cơ thể. Khi phát hiện thấy có các chất đó trong máu thì chứng tỏ các khối U đó đang có mặt trong cơ thể.
Trong Ung thư tuyến giáp có thể phát hiện thấy các chất đánh dấu khối U như: HTG (Human Thyroglobulin), CEA (Carcino Embrionic Antigen)…
5. Một số thể bệnh của Ung thư tuyến giáp:
* Thể nhú (Papillom carcinoma):
+ Là thể Ung thư tuyến giáp hay gặp nhất (chiếm 70% các Ung thư tuyến giáp). Là thể có tiên lượng tốt nhất.
+ Thường gặp ở tuổi trẻ (hơn 80% số bệnh nhân là dưới 40 tuổi). Thường biểu hiện ban đầu là một khối U đơn độc nhỏ ở tuyến giáp nên ít khi phát hiện được sớm. Sau đó khi đã có di căn hạch cổ hoặc khi U to ra và gây các hiện tượng chèn ép vùng cổ thì bệnh nhân mới đến khám để điều trị. Thể này có thể di căn vào phổi, xương và các nơi khác trong khi khối U nguyên phát vẫn còn nhỏ.
+ Tỉ lệ sống sau mổ 10 năm có thể đạt tới 70-80% nếu được phẫu thuật sớm, triệt để và điều trị bổ sung sau mổ đầy đủ.
* Thể nang (Vesiculary carcinoma):
+ Chiếm khoảng 20-25% các Ung thư tuyến giáp. Tuy cũng là loại tiến triển chậm nhưng tiên lượng kém hơn thể nhú.
+ Thường ở tuổi 50-60 và ở vùng có bướu cổ địa phương. U thường ở một thuỳ, ít có di căn hạch cổ nhưng ở giai đoạn cuối thường có di căn xa theo đường máu, đặc biệt là hay di căn đến tổ chức xương.
* Thể tủy (Medullary Carcinoma):
+ U phát sinh từ các tế bào C (tế bào cận nang có vai trò tiết Canxitonin). Chiếm khoảng 5-10% các Ung thư tuyến giáp. Tuy cũng thuộc loại tiến triển chậm nhưng tiên lượng kém hơn thể nhú và thể nang.
+ Thường gặp ở tuổi 50-60. Bệnh có tính di truyền và thường mang tính chất Bệnh đa U nội tiết Có thể gặp Hội chứng: Ung thư tuyến giáp thể tuỷ, U tế bào sắc tố tuỷ thượng thận hai bên và U hoặc tăng sản tuyến cận giáp.
+ Ung thư tuyến giáp thể tuỷ thường nằm ở vị trí tiếp giáp 1/3 trên và 1/3 dưới thuỳ tuyến giáp và có thể ở cả hai thuỳ tuyến. Di căn theo đường máu hoặc bạch huyết.
* Thể không biệt hoá:
Chiếm khoảng 10% các Ung thư tuyến giáp, thường thấy ở các bệnh nhân nhiều tuổi. Đây là loại Ung thư tuyến giáp tiến triển nhanh nhất và tiên lượng xấu nhất, ít bệnh nhân sống quá 5 năm.
* Ung thư biểu mô tuyến giáp thể biểu bì:
Chỉ chiếm khoảng 1% các Ung thư tuyến giáp. Cần phân biệt với các ổ dị sản Malpighi trong U tuyến giáp lành tính hoặc di căn của một Ung thư biểu bì từ đường hô hấp hoặc đường tiêu hoá trên vào tuyến giáp.
6. Điều trị:
Trong Ung thư tuyến giáp, điều trị ngoại khoa đóng vai trò cơ bản. Điều trị hoá chất và phóng xạ được xử dụng kết hợp trước mổ và bổ sung sau mổ hoặc để điều trị mang tính chất tạm thời khi bệnh nhân không còn khả năng phẫu thuật nữa.
6.1 Chỉ định các phương pháp phẫu thuật:
+ Cắt bỏ thuỳ có U kèm cả eo tuyến và cắt gần hoàn toàn thuỳ bên đối diện: Khi u có đường kính < 1 cm, chỉ nằm gọn hoàn toàn trong một thuỳ và là Ung thư thể nhú. Nếu có hạch to vùng cổ thì phải tiến hành mổ lấy bỏ hoàn toàn các hạch đó.
+ Cắt hoàn toàn tuyến giáp: Khi U có đường kính > 3 cm và đã xâm lấn ra ngoài vỏ bao tuyến giáp. Sau mổ cần điều trị bổ xung bằng I131 phóng xạ để tiêu diệt nốt tổ chức tuyến còn sót lại.
+ Trong mọi trường hợp đều phải mổ lấy triệt để các hạch di căn để hạn chế khả năng tái phát. Ngoài ra, sau mổ cắt toàn bộ tuyến giáp bệnh nhân thường được dùng Thyroxin kéo dài không những nhằm mục đích điều trị thay thế mà còn để làm giảm TSH trong máu, nhờ đó giảm được khả năng tái phát của bệnh.
6.2 Điều trị ngoại khoa một số thể Ung thư tuyến giáp:
+ Thể nang: Chỉ định mổ cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp, sau mổ cần điều trị bổ xung bằng I131 phóng xạ.
+ Thể tuỷ: Chỉ định mổ cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp vì U thường có ở cả hai thuỳ, chú ý điều trị tình trạng đa u nội tiết nếu có.
+ Thể không biệt hoá: Nếu U còn nhỏ thì có thể mổ cắt hoàn toàn tuyến giáp. Tuy nhiên đa số bệnh nhân đều đến muộn và U đã phát triển xâm lấn mạnh các cơ quan xung quanh, do đó nhiều khi phẫu thuật chỉ mang tính chất tạm thời và không triệt để (nhiều khi mổ chỉ với mục đích khai thông và duy trì đường thở cho bệnh nhân). Phải kết hợp điều trị bằng hoá chất, tia xạ…
+ Ung thư tuyến giáp đã có di căn: Có thể dùng tia xạ và hoá chất điều trị chuẩn bị mổ, sau đó mổ cắt bỏ khối U và lấy hạch di căn càng triệt để càng tốt theo điều kiện cho phép, sau mổ tiếp tục điều trị bổ xung bằng tia xạ, hoá chất…
7. Chăm sóc sau phẫu thuật với ung thư tuyến giáp:
– Sau khi phẫu thuật 1-2 ngày, nên cho bênh nhân ăn uống loại thức ăn dễ ăn, để giảm bớt đau đớn khi nuốt cho bệnh nhân.
– Hướng dẫn bệnh nhân điều chỉnh vị trí nằm của giường, để bảo vệ vết thương sau phẫu thuật, tốt cho việc lành vết thương nhanh chóng.
– Tránh đột nhiên ho, nói nhiều, khi dậy nên lấy tay đỡ đầu, tráng bị kéo mạnh.
– Tạo môi trường yên tĩnh và thoải mái cho bệnh nhân và làm cho tâm lý bệnh nhân thật thoải mái không ưu phiền.
– Kiểm tra cẩn thận vết trên cổ xem có sưng hay không
– Nếu xuất hiện tiếng nói bị khản, hít thở không bình thường, phải nhanh chóng báo cho bác sĩ xử lý.
8. Chế độ dinh dưỡng:
8.1 Chế độ dinh dưỡng phòng chống ung thư:
* Thực hiện chế độ ăn thức ăn sống. (Sinh thực liệu pháp)
– Biện pháp này chống ung thư tại nước ngoài đã có 100 năm lịch sử. Sớm nhất là bác sỹ Các- lin người Do Thái đã dùng chống ung thư bằng nước táo, nước quít, nước rau cần…
– Một nhà khoa học Mỹ mắc bệnh ung thư trong lúc tuyệt vọng nghĩ ra phép ăn thức ăn sống, bà ta ăn một ngày 3 bữa rau, quả dưa, không ăn thức ăn chín, ăn như thế vài năm khỏi bệnh, sống thêm 20 năm mà không dùng phương pháp nào khác. Bà đã giới thiệu cho nhiều người khác, hơn ngàn người mắc bệnh ung thư đã được khỏi bệnh, biện pháp này có thể dự phòng và chữa bệnh ung thư, vì rau xanh, dưa quả có thể bảo vệ hệ thống miễn dịch của cơ thể.
Phần lớn sinh tố và men có trong rau gặp nhiệt bị phân hủy, và rất nhiều rau có thể ăn sống được.
* Ăn nhiều thức ăn có chứa sinh tố A.
– Sinh tố phòng được ung thư nhất là ung thư thượng bì.
– Sinh tố A có tác dụng nâng cao khả năng thích nghi của cơ thể đối với chất gây ung thư ( giảm bớt cơ hội mắc ung thư).
– Sinh tố A có nhiều trong sữa bò, sữa dê, lòng đỏ trứng gà, gan động vật, cà rốt, ớt, rau dền.
– Có người Mỹ khảo sát trong một số 488 ăn ít Caroten, có 14 người mắc bệnh ung thư, Một tổ khác ăn nhiều Caroten chỉ có 2 người mắc bệnh ung thư phổi.
* Nên thường xuyên ăn thức ăn có nhiều sinh tố C.
– Sinh tố C có khả năng ngăn chặn tế bào ung thư phát sinh và phát trển.
– Sinh tố C có nhiều trong trái cây như: Ổi (Có 228 gram Vitamin C mỗi 100 gram ổi), Kiwi (Có 90 gram Vitamin C mỗi 100 gram kiwi), Dâu Tây (Có 60 gram của Vitamin C mỗi 100 gram dâu tây), Cam (Có 50 gram Vitamin C mỗi 100 gram cam), Họ nhà bí (Có 40 gram Vitamin C trong mỗi 100 gram bí), Quả mâm xôi (Có 30 gram Vitamin C mỗi 100 gram quả mâm xôi), Cà chua (Có 10 gram Vitamin C mỗi 100 gram cà chua),
* Ăn nhiều thức ăn có tác dụng ức chế ung thư như: Bắp cải, súp lơ (hay su lơ, hoa lơ)…và các chất nấm chống ung thư như: nấm hương đàm, nấm rơm, nấm bình cô, nấm dầu khí…
* Thường ăn các loại: Tỏi, củ cải trắng, rau rút, ấu, măng nhược trúc.
– Trong tỏi có một loại axit amin mới là alixin ( có người dùng nuôi chuột bằng chất này, kết quả ức chế được di căn của tế bào ung thư) .
– Theo các nhà nghiên cứu Tỏi có tác dụng ức chế tế bào mà hạn chế sự hình thành muối sous nitrate là nguyên liệu gây ung thư do đó chặn sự hình thành sous nitrate amonium là chất gây ung thư. Củ cải trắng cũng có tác dụng chống ung thư.
* Nên thường ăn rau xanh. Có chất diệp lục tố có thể chống ung thư, thực nghiệm khoa học chứng minh 95% chất diệp lục tố không bị chất kiềm toan trong ruột phá hủy.
* Nên thường xuyên ăn hạt Ý Dĩ. Ý Dĩ (là cây thảo còn có tên khác là ý mễ, lục cốc tử, mễ nhân, bo bo, cườm gạo…), sữa ong chúa và hải tảo ( rong biển) là những chất chống ung thư. Táo đỏ, sữa chua đều qua nghiên cứu thấy có tác dụng chống ung thư.
* Nên thường xuyên ăn quả Tỳ Bà (chính là Nhót Tây). Nhót Tây có chất chống ung thư B17. nên ăn cá hố, huyết ngỗng, khoai sọ có tác dụng chóng ung thư. Nên ăn nhiều quả di hầu đào và quả không hoa (?). vô hoa quả còn gọi là quả mật. quả có nhiều vitamin A và D.
* Những thứ nên kiêng: Những thức ăn mốc, thức ăn nướng cháy, thức ăn còn dính thuốc trừ sâu, kỵ ăn dưa chua sống, dưa chua chưa nấu chín có muối nitrat là chất gây ung thư. Kiêng thức ăn xông khói, nướng chiên, chất béo.
8.2 Điều chỉnh chế độ ăn khi đã mắc ung thư:
– Ở giai đoạn khởi đầu của ung thư: Nên ăn nhiều rau quả giàu vitamin E, C, beta-caroten để vô hiệu hóa các gốc tự do. Đặc biệt ưu tiên súp lơ xanh vì nó chứa Sulforaphone, chất ức chế sự phát triển tế bào ung thư.
– Ở giai đoạn tiến triển và di căn: Mục đích dinh dưỡng lúc này là kiềm chế ung thư phát triển (nếu có thể được) bằng các thực phẩm chứa nhiều isoflavones như rau quả và sản phẩm từ đậu nành. Nên ăn uống tích cực để tăng sức đề kháng của cơ thể. Nếu ăn qua đường miệng không đủ thì phải nuôi qua ống thông dạ dày hoặc đường tĩnh mạch. Bổ sung thêm vitamin và chất khoáng để tránh thiếu vi chất dinh dưỡng.
– Nếu bệnh nhân bị biếng ăn, gầy sút, nên bổ sung thêm một số men tiêu hóa để tạo cảm giác thèm ăn. Nếu bị thay đổi khẩu vị, cần sử dụng một số hương vị kích thích gai vị giác (thơm, ngọt, mặn). Trường hợp khó nuốt, nên dùng thức ăn lỏng thêm men Menalaz và các loại thực phẩm cao năng lượng (Ensure, Enplus, Enalaz…).
9. Hỏi đáp:
Câu hỏi: Tôi bị ung thư tuyến giáp, nếu chữa khỏi bệnh thì tôi có thể có con được không? :
Trả lời:
Ung thư tuyến giáp là loại tương đối lành trong các bệnh ung thư. Phần lớn ung thư tuyến giáp tiến triển âm thầm kéo dài, ít có triệu chứng lâm sàng. Bệnh nhân có thể sống 15-20 năm. Do đó tiên lượng của đa số bệnh nhân ung thư tuyến giáp là tốt nếu được chẩn đoán bệnh sớm trước khi di căn và điều trị bằng phẫu thuật, phối hợp với Iod phóng xạ đem lại kết quả rất tốt.
Biện pháp phẫu thuật thường là cắt toàn bộ tuyến giáp nên người bệnh cần phải uống bổ sung hormon giáp thay thế kéo dài liên tục suốt đời.
Trong trường hợp bạn muốn có thai, bạn càng không được ngưng thuốc. Ngược lại, trong khi có thai kỳ, nhu cầu về hormon tuyến giáp tăng lên của người mẹ để nuôi dưỡng thai, liều thuốc Levothyroxine cần tăng thêm. Hormon giáp của người mẹ là thành phần quan trọng giúp thai nhi phát triển nên cần điều chỉnh liều lượng cẩn thận.
Để đảm bảo tốt nhất sự phát triển của thai nhi và sức khoẻ người mẹ, bạn cần khám và theo dõi bởi BS nội tiết và BS sản khoa kể từ khi chuẩn bị có thai và trong suốt thời gian mang thai.
Do hormon giáp là thành phần không thể thiếu cho hoạt động của cơ thể nên bạn cần tiếp tục duy trì liều thuốc này mỗi ngày và không ngưng thuốc ngoại trừ khi có chỉ định của bác sĩ.
Nguyên Cố vấn cao cấp Trung tâm Ung bướu – Tế bào gốc, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Nguyên Chủ nhiệm Khoa Huyết học – Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bác sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa
Nguyên là Phó Trưởng khoa Tai – Tai Thần kinh – Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương.
Hiện nay Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Hoa có lịch thăm khám và điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa An Việt
Bác sĩ Chuyên khoa Ung bướu – Nội tiết
Chuyên gia đầu ngành về phẫu thuật tuyến giáp ở Việt Nam
Chủ tịch CLB người bệnh ung thư tuyến giáp và các bệnh lý tuyến giáp
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 500.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 250.000đ |
| Giá khám chưa bao gồm chi phí siêu âm, xét nghiệm | 300.000đ |